Loại quả xưa chín rụng đầy nay thành đặc sản 300.000 đ/kg, trồng một lần thu hoạch nhiều năm, du khách thích mê

Ươi bay có vị thanh mát, hơi chát nhẹ, khi ngâm nước nở thành lớp thạch mềm khiến nhiều du khách tò mò, tìm mua về làm quà sau những chuyến khám phá miền Trung và Tây Nguyên.

Hạt ươi rừng còn gọi là đười ươi bay, là một trong những đặc sản độc đáo của núi rừng miền Trung và Tây Nguyên. Không có vẻ ngoài bắt mắt như nhiều loại quả rừng khác, hạt ươi gây chú ý bởi khả năng nở thành lớp thịt mềm như thạch khi ngâm nước, mang vị thanh mát, hơi chát nhẹ. Vào mùa, loại hạt này được nhiều người tìm mua để giải khát, đồng thời trở thành món quà lạ được du khách ưa chuộng sau những chuyến khám phá vùng rừng núi.

Cây ươi là loài cây gỗ lớn, thường mọc tự nhiên trong những khu rừng già. Cây có thể cao tới 25-30m, thân thẳng và mất nhiều năm mới trưởng thành. Đặc biệt, ươi không phải năm nào cũng sai quả mà thường có chu kỳ ra quả khoảng 4-5 năm một lần. Chính đặc điểm này khiến mỗi mùa ươi đến, việc tìm nhặt quả trong rừng không hề dễ dàng và nguồn hạt trên thị trường cũng khá hạn chế.

Mùa ươi thường kéo dài từ khoảng tháng 6 đến tháng 8. Khi quả chín, những tán cây trong rừng có thể xuất hiện màu vàng đỏ nổi bật. Quả ươi lúc non có màu đỏ, khi già chuyển sang nâu vàng, vỏ mỏng. Phần đài quả khá lớn, khi gặp gió có thể giúp quả xoay và bay ra xa khỏi gốc cây, từ đó hình thành tên gọi dân gian "ươi bay".

Đây cũng là điểm khiến hạt ươi khác biệt so với nhiều loại quả rừng. Thay vì phải trèo lên những thân cây cao hàng chục mét để hái, người dân thường tìm nhặt những quả đã chín và tự rụng xuống đất. Tuy nhiên, để tìm được ươi bay không phải chuyện đơn giản. Người đi rừng có khi phải di chuyển nhiều ngày, men theo những khu vực cây ươi mọc tự nhiên để nhặt từng quả.

Sau khi thu gom, quả được phơi khô. Những hạt ươi khô có hình dáng khá nhỏ, lớp vỏ nhăn và cứng, thoạt nhìn không quá khác biệt so với nhiều loại hạt rừng. Thế nhưng khi ngâm nước, chúng lại biến đổi rõ rệt.

Cách sử dụng hạt ươi cũng khá đơn giản. Người dùng thường bấm bỏ hai đầu hạt rồi ngâm trong nước ấm hoặc nước sạch. Sau một thời gian, phần thịt bên trong hút nước và nở lớn gấp nhiều lần kích thước ban đầu, tạo thành lớp chất nhầy mềm, hơi sánh như thạch. Phần vỏ và nhân cứng được bỏ đi, chỉ giữ lại phần thịt đã nở để chế biến.

Hương vị của hạt ươi không quá ngọt mà thiên về vị thanh mát, hơi chát nhẹ, càng ăn lạnh càng dễ cảm nhận được cảm giác dịu và sảng khoái. Nhiều người thường pha phần thịt ươi với đường phèn để tạo thành thức uống giải khát. Một số cách dùng khác là kết hợp cùng hạt é, hạt chia hoặc sữa đặc, tạo thành món nước có độ sánh nhẹ, vừa lạ miệng vừa thích hợp dùng trong những ngày nóng.

Với du khách, hạt ươi còn hấp dẫn bởi câu chuyện phía sau món đặc sản. Đây không phải loại hạt có thể thu hoạch quanh năm hay dễ dàng tìm thấy ở mọi nơi. Mùa quả ngắn, cây lại nhiều năm mới cho một vụ khiến việc bắt gặp ươi bay trong tự nhiên trở thành trải nghiệm khá đặc biệt đối với những người yêu thích sản vật rừng.

Không ít du khách sau khi thưởng thức loại hạt này tại các địa phương miền Trung và Tây Nguyên còn mua hạt ươi khô về làm quà. Hạt nhẹ, dễ bảo quản, khi dùng chỉ cần ngâm nước nên thuận tiện mang theo trong những chuyến đi xa. Nếu được bảo quản ở nơi khô ráo, tránh ẩm, hạt có thể giữ được trong thời gian dài.

Giá hạt ươi vì thế cũng không rẻ. Ươi bay, tức loại quả chín tự rụng tự nhiên, thường được đánh giá cao hơn và có giá khoảng 300.000-400.000 đồng/kg. Vào những năm nguồn cung khan hiếm, giá có thể lên tới khoảng 500.000 đồng/kg. Loại thu hái trực tiếp trên cây thường có giá thấp hơn, khoảng 250.000 đồng/kg.

Do cây ươi sinh trưởng chậm và nhiều năm mới cho quả, việc khai thác bền vững có ý nghĩa quan trọng. Một số địa phương đã bắt đầu nhân giống, trồng bổ sung cây ươi ở những khu vực phù hợp, đồng thời khuyến khích người dân thu hái quả chín tự rụng, hạn chế chặt cành hay tác động làm tổn thương cây.