Loại quả mọc bờ rào xưa chín rụng đầy nay thành đặc sản 50.000 đ/kg, trồng một lần thu hoạch nhiều năm, người thành phố ưa chuộng

H.A
Quả bát bát xanh non có vị đắng nhẹ, thịt giòn, thường được người miền Tây đem xào thịt, xào trứng hoặc nấu canh xương. Từ thứ quả mọc hoang nơi bờ rào, mé mương, bát bát nay được nhiều người tò mò tìm mua bởi hương vị dân dã, lạ miệng.

Từng mọc hoang nơi bờ rào, mé mương hay góc vườn miền Tây, quả bát bát khi còn xanh non có vị đắng nhẹ, thịt giòn và thường được người dân đem xào thịt, xào trứng hoặc nấu canh xương... Loại quả dân dã này không cần đợi chín mới có thể chế biến, mà chính những trái xanh non lại tạo nên hương vị đặc trưng cho nhiều món ăn quê.

Bát bát là loại cây dây leo thân mềm, dây mảnh, phát triển nhanh và thường bò trên hàng rào, bụi cây hoặc giàn. Lá có hình gần giống trái tim, màu xanh, các tua cuốn giúp dây bám vào những vật thể xung quanh. Cây có thể mọc ở nhiều nơi nhưng khá quen thuộc tại các vùng quê miền Tây Nam Bộ, đặc biệt ở những khu vực có khí hậu nóng ẩm, đất vườn hoặc đất phù sa.

Quả bát bát lúc còn non khá dễ nhận biết. Quả thuôn dài, kích thước nhỏ, thường chỉ tương đương một ngón tay hoặc lớn hơn một chút. Vỏ xanh bóng, căng và khá cứng khi cầm trên tay. Bổ hoặc cắt đôi, phần thịt bên trong vẫn còn chắc, nhiều nước và có độ giòn nhất định.

Không giống những loại quả thường phải chờ chín mới ăn được, bát bát có thể hái ngay khi còn xanh. Lúc này quả mang vị đắng nhẹ, không quá gắt, hậu vị tương đối thanh. Khi chế biến cùng các nguyên liệu có vị béo hoặc ngọt như thịt, trứng, xương heo, vị đắng của quả càng dịu lại, tạo cảm giác lạ miệng mà không khó ăn.

Một trong những cách chế biến phổ biến là xào quả bát bát với thịt. Quả non được rửa sạch, thái lát rồi cho vào chảo xào cùng thịt heo thái mỏng. Khi vừa chín tới, những miếng quả vẫn giữ được độ giòn, vị đắng nhẹ hòa cùng vị ngọt của thịt và gia vị. Món ăn không cầu kỳ nhưng có thể khiến những người từng ăn từ nhỏ nhớ ngay hương vị của bữa cơm quê.

Nếu thích món nước, quả bát bát non có thể nấu canh với thịt bằm hoặc xương heo. Khi nấu, quả mềm hơn nhưng không hoàn toàn mất độ giòn. Nước dùng có vị ngọt từ thịt hoặc xương, xen chút vị đắng thanh của quả, tạo cảm giác dễ ăn, nhất là trong những ngày thời tiết nóng.

Ngoài quả non, lá và ngọn bát bát còn non cũng có thể sử dụng làm rau. Những phần non thường được hái cùng khi chăm hoặc thu dây, sau đó đem nấu canh với thịt, tôm hoặc các nguyên liệu quen thuộc. Tuy nhiên, quả xanh vẫn là phần tạo nên nét đặc trưng riêng nhờ độ giòn và vị đắng nhẹ.

Trước đây, bát bát chủ yếu được biết đến như một loại cây mọc tự nhiên quanh nhà. Dây có thể tự bò lên hàng rào, bụi cây, bờ mương, đến mùa thì người dân hái quả hoặc ngọn non để chế biến. Vì có sẵn trong vườn nên chẳng mấy ai nghĩ đến việc trồng riêng để lấy quả.

Khi các loại rau quả đồng quê ngày càng được chú ý, bát bát cũng bắt đầu được một số người tìm trồng tại nhà. Cây tương đối dễ sống, sinh trưởng nhanh và không đòi hỏi kỹ thuật chăm sóc quá phức tạp. Chỉ cần có đất tơi xốp, đủ dinh dưỡng, giữ ẩm tốt nhưng không bị ngập úng lâu ngày, cây có thể phát triển thành những giàn dây xanh um.

Bát bát là cây ưa sáng, thích hợp với khí hậu ấm áp. Khi trồng, người dân thường làm giàn hoặc tận dụng hàng rào để dây leo. Cây càng có không gian leo và nhận đủ ánh sáng thì càng thuận lợi cho quá trình sinh trưởng, ra hoa và hình thành quả.Cây có thể được nhân giống bằng hạt hoặc bằng đoạn dây khỏe. Với cách giâm dây, người trồng chọn những đoạn thân bánh tẻ, cắt thành từng khúc rồi cắm xuống đất ẩm. Sau khi bén rễ, cây bắt đầu phát triển dây mới và có thể cho thu hái. Nếu trồng từ hạt, thời gian chờ cây phát triển thường lâu hơn.

Tại chợ quê hay trên chợ mạng, quả bát bát được một số địa chỉ rao bán với giá khoảng 50.000 đồng/kg. Vì tò mò hương vị của loại quả vốn mọc dại này, nhiều người thành phố tìm mua về đổi bữa cho gia đình.