Ốc bươu đen (hay còn gọi là ốc nhồi) là loài thủy sản nước ngọt bản địa, từng xuất hiện phổ biến tại các ao hồ, kênh rạch và ruộng lúa ở vùng quê Việt Nam. Khác với ốc bươu vàng (loại ốc gây hại cho cây trồng), ốc bươu đen được ưa chuộng nhờ phần thịt dày, giòn, vị ngọt tự nhiên và có giá trị thương phẩm cao.
Trước đây, ốc bươu đen chỉ xuất hiện trong những bữa cơm dân dã của người miền quê thì hiện nay, loài ốc này bỗng lên đời thành đặc sản, được thực khách ưa chuộng. Khi nhu cầu thị trường tăng lên, nhiều địa phương đã phát triển mô hình nuôi ốc bươu đen thương phẩm kết hợp sản xuất con giống. Từ những ao nuôi nhỏ trong vườn nhà, nhiều hộ dân từng bước mở rộng quy mô sau khi nhận thấy mô hình phù hợp với điều kiện sản xuất, trong khi chi phí đầu tư và công chăm sóc ở mức vừa phải.

Nuôi ốc bươu đen thương phẩm đang mở ra hướng đi mới cho người dân (Ảnh minh hoạ)
Ốc bươu đen sinh trưởng tốt trong môi trường nước sạch, ít bị ô nhiễm và có nhiều cây thủy sinh để tạo bóng mát. Người nuôi có thể tận dụng ao đất, mương vườn hoặc bể lót bạt, miễn bảo đảm nguồn nước ổn định và hạn chế các loài cá có thể ăn ốc non.
Trước khi thả giống, ao nuôi thường được cải tạo, vệ sinh và xử lý đáy nhằm giảm mầm bệnh. Con giống cần khỏe mạnh, kích cỡ đồng đều, vỏ cứng và không bị xây xát để nâng cao tỷ lệ sống cũng như hạn chế rủi ro trong quá trình nuôi.
Thức ăn của ốc chủ yếu là các loại thực vật dễ kiếm như bèo tấm, bèo cám, rau muống, lá khoai lang, bí đỏ, đu đủ và nhiều loại rau xanh khác. Nhờ tận dụng được nguồn thức ăn sẵn có, người nuôi tiết kiệm đáng kể chi phí, trong khi việc chăm sóc chủ yếu là theo dõi chất lượng nước, bổ sung thức ăn và vệ sinh ao định kỳ.
Sau khoảng 4-6 tháng, ốc có thể đạt kích cỡ thương phẩm nếu được chăm sóc đúng kỹ thuật. Nhiều hộ áp dụng hình thức thu tỉa thay vì thu hoạch đồng loạt để chủ động nguồn hàng, đồng thời kéo dài thời gian cung ứng cho thị trường. Bên cạnh ốc thương phẩm, việc sản xuất và cung cấp con giống cũng mang lại thêm nguồn thu cho nhiều cơ sở chăn nuôi.

Ốc bươu đen dễ nuôi, phát triển nhanh, chi phí ban đầu thấp, thích hợp ở những vùng ao hồ, có diện tích mặt nước (Ảnh minh hoạ)
Nhờ thời gian nuôi không quá dài, mô hình này có thể mang lại nguồn thu đều đặn trong năm. Sau khi thu hoạch, ốc được tiêu thụ qua thương lái, chợ đầu mối, nhà hàng, quán ăn và các cơ sở chế biến. Vào thời điểm bước vào vụ nuôi mới, nhu cầu đối với ốc giống cũng tăng lên, giúp nhiều hộ mở rộng thêm nguồn thu nhập.
Theo ghi nhận tại nhiều địa phương, giá ốc bươu đen thương phẩm thường dao động khoảng 60.000-90.000 đồng/kg, tùy kích cỡ và thời điểm. Với ốc bươu giống, mức giá thay đổi theo số lượng và chất lượng con giống.
Mặc dù được nhiều người ví là mô hình "1 vốn 4 lời", hiệu quả kinh tế của nghề nuôi ốc bươu đen vẫn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chất lượng con giống, điều kiện nguồn nước, kỹ thuật chăm sóc và khả năng tiêu thụ sản phẩm. Vì vậy, nhiều hộ đã chủ động liên kết với hợp tác xã hoặc các đầu mối thu mua để ổn định đầu ra và hạn chế rủi ro.
Ngoài giá trị kinh tế, ốc bươu đen còn là nguyên liệu quen thuộc trong ẩm thực Việt Nam, mang lại rất nhiều lợi ích về mặt sức khoẻ. Với phần thịt dày, giòn và vị ngọt đặc trưng, loại ốc này được chế biến thành nhiều món như ốc hấp sả, ốc nhồi thịt, ốc xào sả ớt, bún ốc hay ốc om chuối đậu, góp phần tạo nên sức tiêu thụ ổn định trên thị trường.
Thịt ốc bươu đen là nguồn cung cấp protein cùng nhiều khoáng chất như canxi, sắt, phốt pho và vitamin nhóm B. Khi được chế biến hợp vệ sinh, đây là nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng, phù hợp để bổ sung vào thực đơn hằng ngày.

Giá trị dinh dưỡng của ốc bươu đen vượt trội, nhất là nguồn protein và canxi (Ảnh minh hoạ)
Từ một loài thủy sản quen thuộc ở đồng ruộng, ốc bươu đen đang mở ra hướng phát triển kinh tế cho nhiều hộ nông dân nhờ chi phí đầu tư hợp lý và thị trường tiêu thụ khá ổn định. Để mô hình phát huy hiệu quả lâu dài, người nuôi cần chú trọng lựa chọn con giống chất lượng, quản lý tốt môi trường nuôi và chủ động xây dựng đầu ra bền vững.