Loại quả mọc bờ rào xưa không ai ngó ngàng, nay thành đặc sản trồng một lần thu hoạch quanh năm, 70.000 đồng/kg

Bình bát dây chinh phục người ăn bằng hương vị rất riêng: quả chín mềm, ngọt thanh, thoang thoảng mùi thơm như hồng chín, còn quả xanh lại giòn mát, xào hay nấu canh đều lạ miệng.

Giữa vô vàn loại trái cây quen thuộc của miền Tây, bình bát dây là cái tên khá lạ với nhiều người thành phố. Loại quả mọc hoang trên bờ rào, bụi cây này từng là món quà tuổi thơ của nhiều thế hệ trẻ em vùng sông nước.

Điều khiến bình bát dây được yêu thích không chỉ là vẻ ngoài bắt mắt khi chín đỏ mà còn ở hương vị rất đặc biệt: quả chín ngọt thanh, thơm nhẹ như hồng chín, còn quả xanh lại giòn, mát, có thể chế biến thành nhiều món ăn dân dã hấp dẫn.

Bình bát dây còn được gọi là mảnh bát, bát bát hay dứa dại, có tên khoa học Coccinia cordifolia (L.) Cogn, thuộc họ Bí. Đây là loài dây leo mọc khỏe, thường bám vào hàng rào, bụi cây hoặc những thân gỗ nhỏ để vươn lên. Cây phân bố ở nhiều địa phương từ Bắc vào Nam nhưng xuất hiện nhiều nhất tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long.

Quả bình bát dây có hình bầu dục, khi còn non mang màu xanh, vỏ nhẵn. Đến lúc chín, quả chuyển sang màu đỏ hồng hoặc đỏ cam rực rỡ, nổi bật giữa những tán lá xanh. Bên trong là phần thịt mềm, chứa nhiều hạt nhỏ.

Điểm đặc biệt nhất của bình bát dây nằm ở hương vị. Quả chín có vị ngọt thanh, không gắt, xen lẫn chút thơm dịu khiến nhiều người liên tưởng đến quả hồng chín. Thịt quả mềm, mọng nước, ăn mát và không ngấy. Chính hương vị nhẹ nhàng, khác biệt này khiến nhiều người từng thử đều nhớ mãi.

Trong khi đó, quả xanh lại mang đến một trải nghiệm hoàn toàn khác. Phần thịt giòn, vị thanh mát nên thường được dùng như một loại rau. Người miền Tây hái quả non để xào với tôm, thịt, nấu canh hoặc luộc chấm nước mắm tỏi. Khi chế biến, quả vẫn giữ được độ giòn tự nhiên, tạo cảm giác vừa lạ miệng vừa hấp dẫn.

Với nhiều người dân miền Tây, bình bát dây không đơn thuần là một loại thực phẩm mà còn gắn với ký ức tuổi thơ. Những ngày hè, trẻ con thường rủ nhau đi dọc bờ rào, bờ bụi để tìm những chùm quả chín đỏ rồi hái ăn ngay tại chỗ. Hình ảnh những giọt sương còn đọng trên lớp vỏ đỏ bóng của quả bình bát dây vào mỗi buổi sáng sớm vẫn là kỷ niệm đẹp trong ký ức của không ít người.

Không chỉ quả, lá non và đọt non của cây cũng được tận dụng làm thực phẩm. Người dân thường dùng để nấu canh với thịt băm, tôm, xương hoặc hột vịt lộn. Lá sau khi nấu vẫn giữ được độ giòn, vị ngọt thanh và mùi thơm đặc trưng, tạo nên nét riêng mà ít loại rau dại nào có được.

Từ một loại quả mọc hoang ít được chú ý, vài năm gần đây bình bát dây bắt đầu xuất hiện trên các chợ trực tuyến và được nhiều người tìm mua để thưởng thức hương vị dân dã. Giá bán phổ biến khoảng 40.000 đồng/kg, vào thời điểm trái mùa có thể lên đến 70.000 đồng/kg do nguồn hàng khan hiếm. Phần lớn sản phẩm hiện nay vẫn được người dân hái từ tự nhiên nên số lượng không nhiều.

Ngoài giá trị ẩm thực, trong dân gian, bình bát dây còn được sử dụng trong một số bài thuốc truyền thống. Tuy nhiên, những công dụng này chủ yếu dựa trên kinh nghiệm dân gian và chưa có đủ bằng chứng khoa học để khẳng định hiệu quả, vì vậy người dùng không nên thay thế các phương pháp điều trị y tế bằng loại cây này.

Bình bát dây là loài cây dễ sống, phát triển tốt ở vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm. Cây có thể mọc trên nhiều loại đất, từ đất vườn, đất pha cát đến đất phù sa, miễn là thoát nước tốt. Bình bát dây ưa ánh sáng nhưng cũng có thể sinh trưởng trong điều kiện bán râm. Cây thường được nhân giống bằng hạt hoặc giâm cành, tốc độ sinh trưởng nhanh và không đòi hỏi chăm sóc cầu kỳ. Sau khi trồng, cây leo khỏe, cần làm giàn hoặc để bám lên hàng rào, bụi cây.

Hiện nay, bình bát dây vẫn chủ yếu mọc tự nhiên hoặc được trồng quy mô nhỏ trong vườn nhà để lấy quả và hái ngọn làm rau, chưa được phát triển thành vùng chuyên canh như nhiều loại cây ăn quả khác.