Chuyên gia ung bướu chỉ “thủ phạm” khiến ung thư khởi phát ở người trẻ và cách phòng ngừa hiệu quả

Hiện các bệnh ung thư đang ngày càng trẻ hóa, nguyên nhân đến từ nhiều phía nhưng có những điều người trẻ hoàn toàn có thể dự phòng được ngay trong cuộc sống hằng ngày.

Đâu là nguyên nhân khiến ung thư khởi phát ở người trẻ? 

Theo số liệu tại Bệnh viện K Trung ương ghi nhận gần đây, có khoảng một phần ba người bệnh thuộc nhóm dưới 50 tuổi. Một số loại ung thư đang được ghi nhận ở người trẻ như ung thư phổi, ung thư vú, ung thư tuyến giáp, ung thư đại trực tràng. Bên cạnh đó, ung thư dạ dày, ung thư thận cũng có xu hướng gia tăng.

Bác sĩ Hà Hải Nam, Phó khoa Ngoại bụng 1 (Bệnh viện K) cho biết, có 4 nhóm yếu tố nguy cơ liên quan đến ung thư ở những người trẻ. Cụ thể:

- Thứ nhất, thừa cân, béo phì và chế độ ăn uống không phù hợp. Lối sống ít vận động, chế độ ăn dư thừa năng lượng, nhiều chất béo, sử dụng nhiều thực phẩm chế biến sẵn, thịt chế biến hoặc thực phẩm được chế biến ở nhiệt độ cao có thể làm gia tăng các yếu tố nguy cơ.

Chế độ ăn uống, sinh hoạt không khoa học là yếu tố nguy cơ gây ung thư hàng đầu. Ảnh minh họa. 

- Thứ hai, hút thuốc lá và phơi nhiễm khói thuốc. Những người đang hút thuốc, có tiền sử hút thuốc hoặc thường xuyên tiếp xúc với khói thuốc thuộc nhóm cần đặc biệt lưu ý.

- Thứ ba, phơi nhiễm với một số tác nhân vi sinh vật, trong đó có HPV, virus viêm gan B, viêm gan C và vi khuẩn Helicobacter pylori (HP). Đó là những tác nhân có liên quan đến nguy cơ của một số loại ung thư.

- Thứ tư, tiền sử gia đình mắc ung thư. Nếu bố mẹ, anh chị em ruột hoặc người thân trong gia đình từng mắc ung thư, nguy cơ của một số thành viên có thể tăng lên. Ví dụ, người có mẹ hoặc chị gái mắc ung thư vú cần lưu ý nguy cơ ung thư vú của bản thân. Tương tự, nếu trong gia đình có bố, mẹ hoặc anh chị em mắc ung thư đại trực tràng, ung thư dạ dày, các thành viên còn lại nên chủ động trao đổi với bác sĩ để đánh giá nguy cơ và có kế hoạch theo dõi phù hợp.

Đâu là những vấn đề đáng lo ngại? 

Bác sĩ Hà Hải Nam cho rằng, khi người trẻ mắc ung thư cũng có những lợi thế nhất định, như sức đề kháng tốt, phát hiện sớm, điều trị đáp ứng tốt hơn so với người cao tuổi. Tuy nhiên, họ cũng đối mặt với những vấn đề đáng lo ngại đó là: Dễ chủ quan vì nghĩ mình còn trẻ, có thể phát hiện bệnh khi đã muộn và phải đối diện với gánh nặng điều trị, sinh sản lâu dài.

Bác sĩ Nam phân tích, với người mới ở ngưỡng tuổi 40, đang ở độ chín của sự nghiệp, khi phát hiện mắc ung thư tinh thần bị ảnh hưởng, sức khỏe suy kiệt, kéo theo khả năng lao động và đóng góp cho xã hội cũng giảm theo. Đó là chưa kể, khi còn trẻ quá trình điều trị và duy trì sau đó sẽ tốn kém không ít về mặt kinh tế, đó chính là điều nhiều người lo ngại, làm ảnh hưởng đến việc điều trị lâu dài.

Khi nhận thông báo mắc ung thư nhiều người trẻ kiệt quệ cả về thể chất, lẫn tinh thần. Ảnh minh họa. 

Một vấn đề đặc biệt khác là khả năng sinh sản. Ở tuổi 30-40, nhiều người vẫn đang trong độ tuổi sinh con. Vì vậy, khi xây dựng kế hoạch điều trị, bác sĩ không chỉ phải tập trung vào việc kiểm soát ung thư mà còn cần cân nhắc đến khả năng duy trì chức năng sinh sản và những mong muốn lâu dài của người bệnh.

Từ những phân tích trên bác sĩ Hà Hải Nam khuyên:

- Thứ nhất, muốn phòng ung thư cần phải thay đổi từ lối sống, bắt đầu từ việc ăn uống. Hiện nay người trẻ có xu hướng sử dụng khá nhiều thực phẩm chế biến sẵn. Chế độ ăn nhiều khi có quá nhiều dầu mỡ, sử dụng nhiều thực phẩm được chế biến quá kỹ. Vì vậy, điều cần làm là nên thay đổi, tăng cường các thực phẩm giàu dinh dưỡng, chất xơ, rau quả thay vì sử dụng quá nhiều thực phẩm chế biến sẵn.

- Thứ hai là thay đổi lối sống. Chúng ta nên năng động hơn, vận động nhiều hơn thay vì ngồi tại chỗ trong thời gian dài.

- Thứ ba, nếu đang hút thuốc lá hoặc uống nhiều rượu bia thì nên dừng lại. Khi bỏ thuốc lá, nguy cơ ung thư cũng giảm theo thời gian.

- Thứ tư là chủ động tầm soát và phát hiện sớm. Những người trẻ có tiền sử gia đình mắc ung thư hoặc được chẩn đoán nhiễm các tác nhân vi sinh vật có liên quan đến ung thư nên được bác sĩ tư vấn để đánh giá nguy cơ và lựa chọn phương pháp tầm soát phù hợp.