Cây dại mọc bờ rào nay thành đặc sản nổi tiếng, trồng 35 ngày cho thu hoạch, giá 60.000 đồng/kg người thành phố ưa chuộng

Rau chua me có vị chua thanh, dịu mát rất riêng, có thể ăn sống, nấu canh cá hay trộn gỏi. Thứ rau dại quen thuộc này nay trở thành đặc sản được nhiều người tìm mua.

Từng mọc dại quanh vườn, bờ rào, chẳng mấy ai để tâm, rau chua me đất nay lại được nhiều người tìm mua bởi hương vị chua thanh rất riêng. Những chiếc lá nhỏ hình trái tim có thể ăn sống, trộn gỏi, nhúng lẩu hoặc nấu cùng cá, tôm để tạo nên vị chua dịu, mát miệng mà không cần đến chanh hay giấm. Từ thứ rau quê thường chỉ tiện tay hái về nấu bữa cơm đạm bạc, chua me đất giờ trở thành món đặc sản lạ miệng, có lúc được bán tới 60.000 đồng/kg trên chợ mạng.

Chua me đất là loại cây thân mềm, thường mọc sát mặt đất và phát triển thành từng đám ở những nơi có đất ẩm, tơi xốp. Cây không cao, thân có màu xanh hoặc hơi đỏ nhạt, khá mềm và dễ gãy. Đặc biệt, lá cây mọc thành cụm ba lá chét trên một cuống dài, mỗi lá có hình trái tim nên nhiều người dân quê còn gọi vui là “cỏ ba lá”.

Không có vẻ ngoài bắt mắt như những loại rau bán phổ biến ngoài chợ, chua me đất lại gây ấn tượng nhờ hương vị. Lá non mọng nước, khi ăn sống có vị chua thanh, hơi dịu và mát, càng nhai càng cảm nhận rõ vị chua tự nhiên. Vị chua ấy không quá gắt như một số loại quả dùng để tạo vị chua, vì vậy thường được tận dụng làm nguyên liệu cho các món ăn dân dã.

Ở nhiều vùng quê miền Trung như Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa, Đà Nẵng, chua me đất từng là thứ rau quen thuộc. Mùa hè, chỉ cần đi quanh vườn, dưới gốc cây hoặc ven bờ rào là có thể hái được một nắm rau mang về.

Với nhiều gia đình, món quen thuộc nhất là canh cá nấu rau chua me đất. Cá lóc, cá nục, cá cơm hoặc những loại cá sẵn có ở địa phương được làm sạch, nấu chín rồi cho rau vào sau cùng. Vị ngọt của cá hòa với vị chua thanh của rau tạo thành nồi canh đơn giản nhưng rất đưa cơm.

Chính vị chua tự nhiên này giúp nước canh bớt ngấy, đồng thời làm nổi bật vị ngọt của cá. Một bát canh nóng ăn cùng cơm trắng, thêm chút ớt cay và rau thơm có thể trở thành món ăn khiến những người xa quê nhớ mãi.

Ngoài nấu canh cá, phần lá và ngọn non của chua me đất còn được sử dụng theo nhiều cách khác. Lá non có thể rửa sạch, ăn sống chấm muối hoặc ăn kèm các món luộc, hấp. Vị chua nhẹ của rau giúp cân bằng những món có vị béo, đặc biệt hợp với cá hấp, thịt luộc hay các món nướng.

Một cách chế biến khác cũng được nhiều người yêu thích là trộn gỏi. Rau chua me đất có thể kết hợp cùng các loại rau thơm, xoài xanh, thịt hoặc cá để tạo thành món gỏi có vị chua tự nhiên. Nhờ vậy, món ăn trở nên thanh và dễ ăn hơn.

Rau cũng có thể được dùng để nhúng lẩu. Khi cho một ít rau chua me đất vào nồi nước dùng, vị chua nhẹ tiết ra giúp nước lẩu có thêm tầng hương vị mới. Tuy nhiên, rau thường chỉ nên cho vào khi ăn để giữ được độ tươi và vị chua đặc trưng.

Ngày trước, những món ăn này chủ yếu xuất hiện trong bữa cơm gia đình bởi chua me đất có sẵn ngoài vườn. Người dân chẳng cần mua hay gieo trồng, cứ đến mùa là đi hái. Vì thế, cây từng bị xem như một loại cỏ dại, thậm chí bị nhổ bỏ khi phát quang vườn hoặc làm đất.

Cùng với xu hướng tìm về các loại rau quê, rau rừng và thực phẩm tự nhiên, chua me đất ngày càng được chú ý. Những người từng biết đến loại rau này từ nhỏ tìm mua để thưởng thức lại hương vị tuổi thơ, trong khi người thành phố lại tò mò muốn thử một loại rau có vị chua tự nhiên.

Trên các chợ mạng, rau chua me đất được bán dưới dạng rau tươi, thường đóng thành từng bó hoặc túi để thuận tiện vận chuyển. Có thời điểm, giá được rao bán lên tới khoảng 60.000 đồng/kg.

Không chỉ thu hái ngoài tự nhiên, chua me đất còn có thể được trồng để chủ động nguồn rau. Cây thích hợp với đất tơi xốp, giàu mùn, có khả năng thoát nước nhưng vẫn giữ được độ ẩm. Những khu vực có ánh sáng vừa phải, không quá khô nóng thường giúp cây phát triển tốt. Sau khoảng 30-35 ngày trồng, cây thường đã bén rễ, phát triển ổn định và có thể bắt đầu thu hái lá, ngọn non. Nếu được chăm sóc tốt, cây tiếp tục đẻ nhánh và cho thu hái nhiều đợt.