Cây dại mọc bờ rào nay thành đặc sản nổi tiếng, trồng 2 tháng cho thu hoạch, giá 80.000 đồng/kg được người thành phố ưa chuộng

H.A
Rau lủi là một trong những loại rau rừng nổi tiếng của Tây Nguyên, vị ngọt thanh và độ giòn dai khi chế biến. Từ một loài cây mọc hoang trên các sườn đồi, ven rừng, rau lủi ngày nay đã trở thành đặc sản giá lên tới 80.000 đồng/kg.

Trong kho tàng những loại rau rừng của Tây Nguyên, rau lủi là cái tên khiến nhiều người lần đầu nghe qua không khỏi tò mò. Với đồng bào ở Gia Lai, Đắk Lắk hay một số vùng miền núi Quảng Ngãi, đây là loại rau quen thuộc đã gắn bó với bữa cơm gia đình từ bao đời nay.

Trước kia, rau lủi chỉ được xem là thức rau hái trong rừng mỗi khi đi làm nương, nhưng hiện nay lại trở thành đặc sản được nhiều người thành phố yêu thích bởi hương vị độc đáo và giá trị dinh dưỡng. Trên chợ mạng, loại rau này được bán với giá từ 50.000-80.000 đồng/kg.

Rau lủi còn có tên gọi khác là kim thất. Cây thuộc dạng thân bò, có thể leo bám lên bụi cây hoặc vách đá, chiều dài thân từ 2–3 m. Thân mọng nước, màu tím nâu, phân nhiều nhánh nhỏ. Lá mọc so le, hình bầu dục, mép có răng cưa, đầu lá nhọn, màu xanh đậm. Vào mùa mưa, cây phát triển mạnh, phủ thành từng mảng xanh trên các triền đồi hoặc ven khe suối.

Điều làm nên sức hấp dẫn của rau lủi chính là hương vị rất khác biệt. Khi còn tươi, lá tỏa mùi thơm thoang thoảng, hơi ngai ngái như hương của một số vị thuốc bắc. Thoạt đầu, nhiều người chưa quen có thể thấy mùi khá lạ, nhưng càng ăn lại càng cảm nhận được vị ngọt dịu và hậu thơm rất đặc trưng. Khi chế biến, rau vẫn giữ được độ giòn, không bị mềm nát như nhiều loại rau lá khác, nhờ vậy tạo cảm giác ngon miệng.

Đối với người dân Tây Nguyên, rau lủi có thể chế biến thành nhiều món ăn dân dã nhưng hấp dẫn. Đơn giản nhất là luộc rồi chấm mắm cua, mắm nêm hoặc muối ớt xanh. Vị ngọt của rau hòa quyện cùng vị mặn đậm đà của nước chấm tạo nên món ăn đưa cơm, càng ăn càng cuốn.

Ngoài món luộc, rau lủi còn được xào tỏi, xào với thịt bò hoặc lòng gà. Khi xào trên lửa lớn, rau vẫn giữ được màu xanh đẹp mắt và độ giòn đặc trưng. Nhiều gia đình còn dùng rau để nấu canh với tôm tươi, cua đồng hoặc cá suối. Nước canh có vị ngọt thanh tự nhiên, rất thích hợp trong những ngày hè nóng bức.

Đặc biệt, rau lủi cũng là loại rau ăn kèm được nhiều quán lẩu và nhà hàng đặc sản Tây Nguyên lựa chọn. Chỉ cần nhúng sơ trong nước lẩu vài chục giây, rau đã chín tới nhưng vẫn giữ được vị thơm và độ giòn. Một số người còn thích ăn sống cùng các món nướng bởi hương thơm đặc trưng giúp cân bằng vị béo của thịt.

Trước đây, nguồn rau lủi gần như hoàn toàn được khai thác từ tự nhiên. Người dân đi rừng tranh thủ hái những ngọn non, bó thành từng mớ nhỏ rồi mang ra chợ bán. Tuy nhiên, nhu cầu thị trường tăng lên khiến nhiều hộ bắt đầu đưa loại rau này về trồng để chủ động nguồn cung.

Rau lủi là loại cây khá dễ trồng. Cây có thể nhân giống bằng cách giâm cành hoặc tách gốc. Sau khi cắt đoạn thân bánh tẻ dài khoảng 20–30 cm, người trồng chỉ cần cắm xuống đất ẩm là cành có thể bén rễ sau vài tuần. Loại cây này ưa khí hậu mát mẻ, đất tơi xốp, giàu mùn và thoát nước tốt. Có thể trồng ở ven hàng rào, chân đồi hoặc làm giàn cho cây leo.

Sau khoảng 2–3 tháng, cây bắt đầu cho thu hoạch những ngọn non đầu tiên. Khi cắt ngọn, cây tiếp tục đâm nhiều chồi mới nên có thể thu hái liên tục. Việc chăm sóc cũng khá đơn giản, chủ yếu giữ độ ẩm cho đất, làm cỏ định kỳ và bón thêm phân chuồng hoai mục hoặc phân hữu cơ để cây phát triển xanh tốt.

Dù vậy, nhiều người dân địa phương cho biết rau lủi trồng trong vườn vẫn khó có được hương vị đậm đà như rau mọc tự nhiên. Những cây sinh trưởng giữa sườn núi đá, hấp thụ nắng gió và nguồn dinh dưỡng từ đất rừng thường có mùi thơm rõ hơn, vị ngọt đậm và giòn hơn. Chính sự khác biệt ấy khiến rau lủi rừng luôn được thực khách săn tìm.