Vaccine cúm - Bảo vệ chủ động trước các chủng virus cúm nguy cơ cao

Cúm không chỉ là những cơn sốt, ho hay mệt mỏi thoáng qua, các chủng virus cúm thường lưu hành gồm A/H1N1, A/H3N2, và cúm B đều có thể gây bệnh nặng và biến chứng nguy hiểm.

Theo PGS.TS.BS. Võ Thành Toàn, Trưởng Trung tâm Tiêm chủng, Bệnh viện Thống Nhất TP.HCM, virus cúm A được phân loại thành các phân nhóm dựa trên cấu trúc protein bề mặt, trong đó các phân nhóm lưu hành phổ biến hiện nay là H1N1 và H3N2. Ngược lại, virus cúm B không được chia thành các phân nhóm tương tự mà được phân loại thành dòng. Cả cúm A và cúm B đều có khả năng gây bệnh nặng, tuy nhiên biểu hiện lâm sàng và mức độ nghiêm trọng có thể khác nhau tùy từng chủng virus.

GS.TS.BS. Võ Thành Toàn

A/H1N1 – chủng từng gây đại dịch năm 2009 – có xu hướng gây biến chứng nặng ở người trẻ và người có bệnh nền. “Nghiên cứu cho thấy bệnh nhân nhiễm H1N1 có nguy cơ nhập cấp cứu cao hơn so với H3N2. Chủng dễ gây tình trạng thiếu oxy máu, rối loạn điện giải, viêm phổi nặng, thậm chí sốc hoặc suy thận” bác sĩ nói. “Trong khi đó, A/H3N2 lại gây nhiều ca tử vong, đặc biệt ở người từ 65 tuổi trở lên. Khi virus biến đổi theo mùa, nguy cơ mắc bệnh và biến chứng nặng ở trẻ em có thể tăng lên đáng kể”.

Với cúm B, bác sĩ Toàn cho biết có thể gây ra gánh nặng bệnh tật đáng kể. Cúm B chiếm khoảng 23% tổng số ca cúm, với nhiều tác động ở trẻ em và người cao tuổi. Mặc dù thường bị đánh giá thấp so với cúm A do ít có khả năng gây đại dịch, cúm B vẫn gây ra tỷ lệ nhập viện, biến chứng nặng và tử vong đáng kể.

Không có chủng nào là nhẹ hoàn toàn. Mức độ nguy hiểm phụ thuộc vào độ tuổi, bệnh nền và miễn dịch của mỗi người. Trong đó, người lớn tuổi, người có bệnh nền, trẻ em, phụ nữ có thai luôn là những đối tượng dễ bị tổn thương nhất nên rất cần chú trọng phòng ngừa”, bác sĩ nhấn mạnh.

Một điểm đáng lo ngại nữa của virus cúm là khả năng biến đổi liên tục, khiến hệ miễn dịch khó ghi nhớ và bảo vệ lâu dài, đây chính là lý do cúm mùa năm nào cũng quay lại.

Virus cúm mang vật liệu di truyền là RNA. Khi xâm nhập cơ thể, chúng nhân lên bằng cách sao chép RNA để tạo ra thế hệ virus mới. Nhưng quá trình sao chép này rất dễ sai sót, giống như chép một bài văn dài thì khó tránh khỏi viết nhầm vài chỗ. Những sai sót đó tạo ra các phiên bản virus thay đổi so với ban đầu. Nếu thay đổi xảy ra ở bề mặt virus – nơi hệ miễn dịch nhận diện và ghi nhớ – thì miễn dịch cũ có thể không còn nhận ra virus cúm mới nữa.

Trước sự biến đổi liên tục không ngừng của virus, PGS.TS.BS. Võ Thành Toàn nhấn mạnh việc tiêm vaccine cúm hằng năm là giải pháp phòng bệnh chủ động và cần thiết.

Vaccine cúm hiện nay được thiết kế để bảo vệ trước các chủng virus đang lưu hành. Nghiên cứu cho thấy lợi ích rõ rệt:

- Người cao tuổi: Tiêm vaccine liều chuẩn giúp giảm 42% nguy cơ nhập viện do cúm và giảm 48% nguy cơ tử vong trong vòng 30 ngày sau khi mắc bệnh.

- Người có bệnh nền: Giảm 45% nguy cơ nhập viện do cúm. Riêng ở bệnh nhân suy tim hoặc COPD, nguy cơ nhập viện (do cúm làm trầm trọng bệnh nền) giảm tới 80,3%.

- Trẻ em từ 6 tháng đến dưới 17 tuổi: Giảm 62% tỷ lệ nhập viện và giảm 56% nguy cơ phải vào cấp cứu vì cúm.

- Phụ nữ mang thai: Giảm 76,6% nguy cơ mắc cúm và giảm 86,6% nguy cơ nhập viện do cúm.

Ngay cả người trẻ, khỏe mạnh cũng không nằm ngoài lợi ích này. Theo bác sĩ, ở người trưởng thành khỏe mạnh, vaccine cúm giúp giảm khoảng 20% nguy cơ nhập viện do cúm hoặc viêm phổi.

Bên cạnh việc tiêm vaccine, bác sĩ cũng khuyến nghị mọi người thực hiện các biện pháp phòng ngừa không đặc hiệu để tạo thành hàng rào kép bảo vệ cộng đồng. Đeo khẩu trang khi đến nơi đông người hoặc khi có triệu chứng hô hấp, rửa tay thường xuyên bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn, che miệng khi ho/hắt hơi, giữ môi trường sống thông thoáng là những hành động đơn giản nhưng nếu được duy trì đồng bộ, khả năng lây truyền cúm sẽ giảm đáng kể.