Cá bông lau có tên khoa học là Pangasius krempfi, thuộc chi cá tra và thuộc dòng cá da trơn, bởi là loài cá di trú nên chúng có thể sống ở môi trường nước mặn, nước lợ và cả nước ngọt. Tại Việt Nam cá bông lau xuất hiện nhiều ở hệ thống sông Cửu Long, nhiều nhất là khu vực Sông Hậu.
Cá bông lau có vẻ ngoài khá giống với cá basa và cá hú nên rất dễ bị nhầm lẫn. Cá bông lau có kích thước tối đa khá lớn với chiều dài khoảng 120cm và nặng khoảng 14kg. Chúng thích nghi tốt với độ mặn từ 0–8‰, có tính kháng bệnh cao, ăn tạp, phàm ăn, lớn nhanh và thịt thơm ngon có giá trị kinh tế lớn.

Cá bông lau được xem là loại đặc sản nổi tiếng ở miền Tây sông nước
Loài cá da trơn có tên như một loại hoa này từ lâu đã được xem là món quà quý của sông nước miền Tây. Trước đây, loài cá này chủ yếu được đánh bắt ngoài tự nhiên, xuất hiện nhiều vào mùa nước nổi. Cá bông lau có thịt trắng, thơm, béo nhẹ, vị ngọt thanh và rất ít xương dăm, vì thế được người dân ưa chuộng và trở thành đặc sản trứ danh của vùng sông nước Cửu Long.
Cá bông lau không chỉ là món ăn dân dã quen thuộc với hàm lượng đạm chất lượng cao, omega-3, vitamin và khoáng chất phong phú, cá bông lau góp phần hỗ trợ tim mạch, kiểm soát cân nặng, tăng cường xương khớp và thị lực. Giá cá bông lau sẽ dao động tùy theo khối lượng, độ tươi và xuất xứ nhưng thông thường sẽ dao động từ khoảng 300.000 trở lên cho 1kg cá tươi nguyên con.
Với giá trị kinh tế ổn định, nguồn cá tự nhiên ngày càng khan hiếm do khai thác quá mức và biến đổi môi trường sống. Nắm bắt nhu cầu thị trường ngày càng cao, nhiều hộ nông dân đã mạnh dạn nghiên cứu, thử nghiệm mô hình nuôi cá bông lau trong ao, bè và vùng nước lợ ven sông. Nhờ khả năng thích nghi tốt, tăng trưởng nhanh và giá trị kinh tế cao, mô hình này nhanh chóng cho thấy hiệu quả rõ rệt, giúp không ít gia đình vươn lên làm giàu.

Nhiều hộ nông dân tận dụng ao nuôi, chuyển sang cá bông lau cho hiệu quả kinh tế ổn định
Nhiều hộ nông dân đều tận dụng ao nuôi tự nhiên tại nhà, lót bạt cải tạo và thả nuôi thử vài trăm con cá bông lau giống mua từ các ghe, tàu đánh bắt ngoài sông lớn. Sau khoảng 20 tháng thả nuôi, cá phát triển tốt và đạt trọng lượng trên 2kg/con, bán với giá hơn 150 ngàn đồng/kg và thu về lợi nhuận khá cao.
Từ lợi nhuận ban đầu, người nông dân đã đầu tư cải tạo mở rộng các ao nuôi tôm với tổng diện tích hàng chục nghìn m2 và chuyển hẳn sang nuôi cá bông lau thương phẩm. Đa số đều áp dụng phương thức thả nuôi xoay vòng để đảm bảo nguồn lợi kinh tế trong năm. Điển hình với khoảng 60.000 con cá giống bông lau, tổng sản lượng thu hoạch đạt 45 tấn.
Nhiều người nông dân chia sẻ, họ đặc biệt dành 1 ao nuôi khoảng 1.000m2 để thuần dưỡng cá bông lau giống, sau 7 ngày thả ra ao đất. Mật độ thả để cá có tỷ lệ sống cao và đạt sản lượng bình quân 3 con/m2. Nhiều năm đã duy trì và phát triển hiệu quả tổng diện tích thả nuôi cá bông lau thương phẩm, với nguồn thu nhập mỗi năm hơn 1 tỷ đồng sau khi trừ chi phí.

Người nông dân thu hoạch cá bông lau thương phẩm với giá bán tốt
Cá bông lau có giá trị kinh tế cao, nguồn giống có sẵn ngoài tự nhiên, kỹ thuật nuôi cũng khá đơn giản, giống với các loại cá da trơn, khả năng kháng bệnh cao. Cá bông lau giống xuất hiện hàng năm từ tháng 8 đến tháng 11 âm lịch. Đây cũng là thời điểm nhiều nông dân bắt đầu thu mua giống đem về thuần dưỡng và thả nuôi.
Nuôi cá bông lau cũng khá đơn giản, chủ yếu quan tâm đến chế độ thức ăn, ao nuôi sâu 3m và sạch sẽ, thông thoáng, chạy quạt đều tạo oxy vì đây là loại cá sống ngoài thiên nhiên thích nơi dòng chảy nước sâu, đặc biệt nhằm đảm bảo chế độ ăn cho cá, không để thức ăn trôi vào bờ, dư thừa. Nhiều người nông dân đã nghĩ ra cách dùng ống nhựa khoanh tròn thả nổi trên một phần diện tích ao nuôi và thả thức ăn vào đó. Mỗi ngày cho cá ăn 2 cữ vào 6 giờ sáng và 6 giờ tối.

Cá bông lau giống được thả nuôi tự nhiên, dễ chăm, ít vốn đầu tư
Cá bông lau có tốc độ tăng trưởng khá nhanh, từ khi thả giống đến khi đạt trọng lượng 1-1,5kg thường mất khoảng 10-12 tháng. Cá phù hợp với môi trường nước có dòng chảy nhẹ, nhiệt độ dao động từ 25-30 độ C, độ pH trung tính và oxy hòa tan trên 3,5 mg/lít. Đặc biệt, cá ít bệnh, tỷ lệ sống cao khi được chăm sóc tốt.
Ở giai đoạn nhỏ, cá bông lau chủ yếu ăn động vật phù du. Khi trưởng thành, thức ăn đa dạng hơn, gồm cá con và trái cây rụng. Cá bông lau có hình dáng khá giống cá tra nhưng thân thon dài hơn, da trơn mịn, thịt trắng và ngọt. Thời điểm thu hoạch cá bông lau thường rơi vào khoảng tháng 7 đến tháng 10 âm lịch, khi cá đạt kích cỡ thương phẩm và nguồn cầu trên thị trường tăng mạnh.
Không chỉ bán tươi, nhiều hộ dân còn đầu tư kho lạnh, sấy khô và cung ứng cho nhà hàng, siêu thị. Nhờ đó, giá trị cá bông lau được nâng cao, mở rộng đầu ra và tạo việc làm cho nhiều lao động địa phương. Theo các hộ nông dân nuôi cá bông lau lâu năm chia sẻ, khi canh tác cần theo dõi pH, nhiệt độ, oxy hòa tan và thay nước định kỳ. Thức ăn nên đảm bảo đủ dinh dưỡng, tránh dư thừa gây ô nhiễm đáy ao.

Mô hình nuôi cá bông lau hiện đang được áp dụng nhiều hơn
Thực tế cho thấy, cá bông lau rất phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng và nguồn nước ở Đồng bằng sông Cửu Long. Từ một loài cá dân dã, cá bông lau nay đã trở thành nguồn thu nhập ổn định, thậm chí là con đường làm giàu cho rất nhiều hộ nông dân. Không chỉ góp phần nâng cao đời sống kinh tế, mô hình nuôi cá bông lau còn mở ra hướng phát triển bền vững cho ngành thủy sản vùng hạ lưu sông Mê Kông.