Bòn bon còn gọi là dâu da đất ở miền Bắc hay lòn bon ở Đà nẵng, là loại trái cây nhiệt đới quen thuộc với người Việt. Loại quả này kích thước bé, mọc thành từng chùm sai trĩu trên cây, có sức hấp dẫn riêng nhờ lớp cơm trắng mọng nước, vị ngọt thanh xen chút chua dịu và hương thơm nhẹ.

Trước đây, bòn bon chủ yếu mọc tự nhiên trong những cánh rừng. Người dân mỗi khi đi rừng thường hái quả ăn hoặc dùng để giải khát trên đường. Từ một loại quả dân dã, bòn bon từng được xem là sản vật quý để tiến vua, ngày nay loại quả này đã trở thành đặc sản được biết đến ở nhiều nơi, đồng thời được nhiều nhà vườn đưa vào trồng để phát triển kinh tế.
Quả bòn bon có hình tròn, đường kính khoảng 5 cm, vỏ dẻo, khi chín chuyển sang màu vàng nhạt. Bóc lớp vỏ bên ngoài, phần cơm trắng đục hoặc gần như trong suốt lộ ra thành 5-6 múi. Mỗi múi thường có một hạt, một số giống được chọn lọc có tỷ lệ hạt lép cao nên ăn thuận tiện hơn.
Điểm khiến bòn bon được yêu thích nằm ở hương vị. Quả khi còn xanh thường có vị chua rõ, càng chín vị càng dịu và chuyển sang ngọt thanh. Cơm mềm mọng nhưng vẫn có độ chắc nhẹ, ăn vào mát miệng, xen giữa vị ngọt là chút chua rất đặc trưng. Bòn bon tự nhiên ở vùng rừng Đà Nẵng (khu vực tỉnh Quảng Nam cũ) thường quả nhỏ, vị chua hơn nhưng thơm đậm, trong khi các giống bòn bon Thái được trồng phổ biến hiện nay có cơm dày, vị ngọt thanh và ít hạt.

Khi ăn bòn bon cần lưu ý phần hạt. Hạt có vị rất đắng và thường khó tách hoàn toàn khỏi múi. Vì vậy, nhiều người có thói quen ăn cả múi rồi nhả hạt sau. Những quả chín vừa tới thường được xem là ngon nhất vì cơm mọng, vị cân bằng giữa ngọt và chua, không quá mềm.
Đây là cây thân gỗ, có thể cao khoảng 10-15 m, thậm chí một số cây lâu năm cao hàng chục mét. Hoa màu vàng nhạt, mọc thành từng chùm trên cành. Sau khi hoa kết trái, quả phát triển thành những chùm lớn, đến mùa nhìn từ xa giống như những chuỗi hạt vàng treo kín dưới tán cây.
Ở Việt Nam, Đà Nẵng là vùng đất gắn bó lâu đời với cây bòn bon. Tiên Phước, Đại Lộc, Nam Giang, Đông Giang từng có những khu rừng bòn bon tự nhiên. Người dân đi rừng hái quả phải băng qua những cung đường núi, gùi từng gùi bòn bon về nhà.

Bên cạnh giống bòn bon bản địa, bòn bon Thái được nhiều nhà vườn lựa chọn. Giống này có sức sinh trưởng khá mạnh, ít sâu bệnh và đặc biệt chịu được bóng râm, thích hợp trồng xen trong vườn dừa hoặc dưới tán những cây ăn trái khác. Quả bòn bon Thái thường có cơm vàng, múi dày, vị ngọt thanh và tỷ lệ hạt lép cao nên được người tiêu dùng ưa chuộng.
Một ưu điểm khác của cây bòn bon là không đòi hỏi quá nhiều công chăm sóc. Khoảng cách trồng phổ biến khoảng 4 m giữa các cây. Người trồng chủ yếu phát cỏ, bón phân định kỳ và có thể tận dụng cỏ làm phân hữu cơ. Cây gần như không cần xử lý ra hoa bằng thuốc kích thích. Sau giai đoạn nắng gắt trước mùa mưa, khi những cơn mưa đầu mùa xuất hiện, cây thường tự bung hoa rồi kết trái theo quy luật tự nhiên.

Nếu chăm sóc thuận lợi, cây bòn bon bắt đầu cho quả sau khoảng 6 năm trồng. Quả mọc thành từng chùm lớn, mỗi chùm có thể nặng từ 0,6 đến hơn 1 kg. Những cây khoảng 12-13 năm tuổi có thể cho hơn 100 kg quả mỗi vụ. Cây chỉ thu hoạch một lần trong năm nhưng năng suất tương đối ổn định.
Mùa bòn bon thường kéo dài từ khoảng tháng 5 đến tháng 10, tùy vùng và điều kiện thời tiết. Khi chín, những chùm quả vàng óng trở thành hình ảnh đặc trưng trong các khu vườn miền quê. Quả lại khá dễ bị thâm tím và hư hỏng khi va đập nên người dân phải thu hái, phân loại và vận chuyển cẩn thận. Những chùm quả to, đẹp, còn nguyên thường có giá cao hơn; quả rời hoặc bị xây xước thường được giữ lại để ăn.

Tùy thời điểm, bòn bon có thể được bán với giá khoảng 30.000-70.000 đồng/kg đối với quả thông thường. Các giống ngon, quả đẹp hoặc bán vào thời điểm khan hàng có thể có mức giá cao hơn. Không quá cầu kỳ về cách thưởng thức, bòn bon ngon nhất thường chỉ cần bóc vỏ và ăn trực tiếp. Vị ngọt thanh, chua nhẹ, mọng nước khiến loại quả này đặc biệt thích hợp dùng trong những ngày nóng.