Quả cọ nếp vốn là thức quà quen thuộc của nhiều vùng trung du, miền núi phía Bắc, đặc biệt gắn với những đồi cọ ở Phú Thọ. Không nổi bật bởi hình dáng hay màu sắc, loại quả này lại chinh phục người ăn bằng phần thịt vàng óng, dày, mềm dẻo cùng vị béo bùi, thơm ngậy rất riêng. Vào mùa, cọ nếp từ món ăn dân dã ở quê được đưa xuống phố, trở thành đặc sản theo mùa có giá khá cao.

Cọ có cọ tẻ và cọ nếp nhưng cọ nếp được ưa chuộng hơn nhờ phần cùi dày và giàu thịt. Khi quả còn tươi, phần thịt có vị chát đặc trưng nên gần như không ăn trực tiếp. Qua công đoạn om đúng cách, cùi cọ chuyển sang màu vàng mật ong, mềm dẻo, béo bùi và có vị ngọt nhẹ. Càng nhai kỹ càng cảm nhận rõ mùi thơm ngậy, hơi giống vị của các loại hạt béo.
Đây cũng là điểm khiến cọ nếp khác với cọ tẻ. Cọ tẻ thường có phần thịt mỏng, độ chát rõ và ít béo, trong khi cọ nếp cho cảm giác dẻo, bùi, ngậy hơn sau khi om. Quả ngon thường có cùi dày, khi bóc ra phần thịt vàng đều, không bị xơ hay nhũn.
Mùa cọ thường bắt đầu từ cuối tháng 10 âm lịch và kéo dài đến khoảng giữa tháng 11 âm lịch. Trước đó vài tháng, cây cọ đã bước vào giai đoạn kết trái. Khoảng giữa tháng 7 âm lịch, những chùm quả non bắt đầu xuất hiện, sau đó lớn dần và mất thêm khoảng 3-4 tháng để đạt độ già, chín thích hợp cho thu hái.

Quả cọ khi còn non có màu xanh, về già chuyển sang xanh đậm rồi ngả màu sẫm. Hình dáng quả thuôn bầu dục, kích thước thường chỉ bằng một đến hai đốt ngón tay. Cọ mọc thành từng chùm trên ngọn cây cao nên thu hoạch không đơn giản. Người hái thường phải dùng sào gắn lưỡi liềm để cắt từng chùm quả hoặc trèo lên cây nếu điều kiện cho phép.
Cây cọ có thân cao, tán lá xòe rộng và thường được trồng thành từng khu vực trên đồi. Loài cây này không đòi hỏi chăm sóc quá cầu kỳ, có thể sinh trưởng ở những vùng đất đồi, đất trung du phù hợp. Nhiều cây cọ lâu năm có thể cao vút, việc thu hái quả vì thế khá vất vả. Những cây phát triển tốt, ít bị sâu bệnh và cho chùm quả sai thường được người dân giữ lại để thu hoạch hằng năm.

Ngày trước, cây cọ được trồng không chỉ để lấy quả. Lá cọ từng được sử dụng để lợp mái, làm vật dụng dân gian, trong khi thân cây có thể tận dụng cho nhiều công việc khác. Quả chỉ là phần thu hoạch theo mùa, được hái về ăn chơi hoặc chế biến thành món ăn trong gia đình. Chính vì vậy, cọ từng được xem là thức quả quê, giá trị kinh tế không quá cao.
Những năm gần đây, cọ nếp ngày càng được người tiêu dùng thành phố biết đến. Khi mùa cọ đến, loại quả này xuất hiện trên các chợ trực tuyến, cửa hàng nông sản và được nhiều người đặt mua làm quà. Giá cọ thường khoảng 60.000 đồng/kg, trong khi cọ nếp ngon có thể lên gần 100.000 đồng/kg. Cọ đã om sẵn thường cộng thêm khoảng 5.000-10.000 đồng/kg tiền công chế biến. Thời điểm cuối mùa, giá có thể lên tới 160.000 đồng/kg.
Để có mẻ cọ ngon, quả sau khi thu hoạch phải được lựa kỹ, rửa sạch rồi xử lý trước khi om. Nước dùng để om không được quá nóng. Cách làm phổ biến là đun nước đến khoảng 85-90 độ C, sau đó đổ vào dụng cụ chứa cọ và ngâm trong khoảng 15-20 phút. Khi gặp nhiệt vừa đủ, lớp cùi bên ngoài mềm ra, vị chát giảm và phần thịt bắt đầu chuyển sang màu vàng óng.

Nếu dùng nước sôi già hoặc om quá lâu, quả dễ bị teo, cứng hoặc nhũn, làm mất độ bùi béo vốn có. Người làm cọ vì thế phải căn thời gian và nhiệt độ khá chính xác. Khi om đạt, trên mặt nước thường xuất hiện lớp váng vàng, cùi cọ mềm nhưng vẫn giữ được độ dẻo.
Cọ om có thể ăn trực tiếp như một món quà vặt. Chỉ cần bóc lớp vỏ, tách hạt là có thể thưởng thức phần cùi vàng mềm, béo bùi. Một số nơi còn chấm cọ với muối hoặc gia vị để tăng vị đậm đà.
Không chỉ ăn chơi, cọ nếp còn được đưa vào nhiều món ăn truyền thống. Phần cùi sau khi om có thể giã nhuyễn để làm bánh dầy, tạo màu vàng tự nhiên và thêm vị bùi béo cho bánh. Cọ cũng có thể làm dưa, dùng trong các món kho hoặc kết hợp với cá, thịt để tạo vị thơm ngậy.