Có vị chua gắt, pha chút chát và khi bổ ra còn tiết nhiều nhựa, quả khế rừng nghe qua không phải món dễ ăn. Thế nhưng, cứ vào mùa, loại quả dân dã này lại được người dân vùng Tây Bắc tìm hái, còn trên thị trường cũng có nhiều người săn mua để thưởng thức cùng củ đậu, me non và chẩm chéo.

Khế rừng là loại quả quen thuộc với người dân một số vùng núi Tây Bắc, thường xuất hiện ở những khu vực rừng tự nhiên hoặc quanh nhà của các hộ dân. Trước đây, cây chủ yếu mọc hoang, người dân đi rừng bắt gặp thì hái về ăn. Một số gia đình còn giữ lại hoặc trồng cây quanh nhà, làm hàng rào và tận dụng như cây cảnh.
Khác với nhiều loại trái cây thường được chờ chín mới thưởng thức, khế rừng lại được sử dụng khi còn non xanh. Quả có hình thuôn dài, dài khoảng 5-7cm, lớp vỏ xanh xù xì, bề mặt hơi ráp và hình dáng khiến nhiều người liên tưởng đến quả mướp đắng. Khi cầm trên tay, quả khá chắc, phần vỏ dày và bên trong chứa nhiều nhựa.
Đây cũng là đặc điểm khiến khế rừng có cách sơ chế khá riêng. Khi cắt hoặc làm sạch, phần nhựa màu trắng đục, trong như sữa có thể tiết ra khá nhiều. Người dân thường để quả cho chảy hết nhựa rồi mới tiếp tục sơ chế. Sau đó, khế rừng được thái lát mỏng để ăn.

Về hương vị, đây chắc chắn không phải loại quả dành cho những người chỉ thích vị ngọt. Khế rừng xanh có vị chua rõ, thậm chí có thể chua gắt và tạo cảm giác khé cổ khi ăn trực tiếp. Xen lẫn vị chua là vị chát đặc trưng. Tuy nhiên, chính sự mạnh mẽ của hương vị này lại khiến khế rừng trở thành món ăn vặt được nhiều người vùng cao yêu thích.
Một trong những cách ăn phổ biến là kết hợp khế rừng với củ đậu. Củ đậu có vị ngọt, nhiều nước và giòn, khi ăn cùng những lát khế rừng chua chát tạo nên sự cân bằng khá thú vị. Người ăn có thể chấm thêm chẩm chéo - loại gia vị đặc trưng của người Thái được làm từ các nguyên liệu như ớt, muối và các loại rau thơm, gia vị giã nhuyễn.
Tùy khẩu vị, khế rừng còn có thể ăn cùng me chua, táo mèo hoặc rau sống. Khi các nguyên liệu được trộn chung, món ăn có đủ vị chua, chát, cay, mặn rồi để lại chút ngọt nơi đầu lưỡi. Với những người đã quen, đây lại là kiểu hương vị càng ăn càng thấy cuốn.

Khế rừng cũng có thể được chế biến theo cách khá đơn giản. Quả được rửa sạch, để ráo, xử lý phần nhựa rồi thái mỏng. Một số người trộn khế rừng với tỏi, ớt, muối, rau thơm và các loại gia vị, tạo thành món ăn có vị chua cay đậm đà. Cách làm này tương tự kiểu trộn các loại quả xanh thường thấy ở vùng cao, có thể ăn riêng hoặc dùng kèm cơm.
Sức hút của khế rừng không chỉ nằm ở hương vị lạ mà còn đến từ sự khan hiếm. Phần lớn quả được thu hái từ những cây mọc tự nhiên hoặc các bụi cây được người dân trồng quanh nhà. Việc tìm hái trong rừng mất nhiều thời gian, sản lượng không ổn định nên loại quả này không phải lúc nào cũng có sẵn trên thị trường.
Tại Sơn La, khế rừng từng được bày bán cùng củ đậu, me non và chẩm chéo thành những phần ăn vặt tiện lợi. Người bán có thể sơ chế sẵn, thái lát, đóng hộp rồi kèm gia vị chấm. Những combo như vậy phù hợp với người muốn thử đặc sản vùng cao nhưng không có thời gian tự làm.
Giá khế rừng vì thế cũng cao hơn nhiều loại quả thông thường. Tùy thời điểm và nguồn hàng, một số nơi bán khoảng 20.000-30.000 đồng cho chùm 5 quả, tính theo trọng lượng có thể lên tới gần 80.000 đồng/kg. Trên mạng xã hội, loại quả này cũng được rao bán dưới dạng quả tươi hoặc combo ăn vặt, thu hút những người từng thưởng thức và muốn tìm lại hương vị đặc trưng Tây Bắc.

Khoảng thời gian xuất hiện quả có thể thay đổi theo khu vực và điều kiện thời tiết. Người dân vùng cao thường tranh thủ vào mùa quả để đi hái, bởi đây là loại quả tự nhiên có sản lượng không lớn. Quả sau khi thu hái cũng cần được bảo quản phù hợp để giữ độ tươi và hạn chế dập nát.
Cây có thể được trồng từ hạt hoặc cây giống, phù hợp với những khu vực có điều kiện đất đai tương tự môi trường tự nhiên, thoát nước tốt và có đủ ánh sáng. Một số hộ dân trồng cây quanh nhà hoặc làm hàng rào thay vì trồng riêng thành vườn chuyên canh.