Sau khi Chương Văn hóa với chủ đề “Đầu đội trời, chân đạp đất” lên sóng, điều đáng chú ý khi những tiết mục sử dụng chất liệu văn hóa Việt tiếp tục được khán giả “mang” ra khỏi chương trình bằng nhiều cách khác nhau. Từ một sản phẩm giải trí trên truyền hình, các sân khấu bắt đầu đi vào lớp học, trở thành đề tài để người trẻ tự tìm kiếm tư liệu, viết phân tích, làm video và kết nối với những hình ảnh lớn hơn về quê hương, lịch sử, con người Việt Nam.
Đó cũng gần với điều Hoàng Rob từng kỳ vọng khi cùng các thành viên xây dựng sân khấu lấy cảm hứng từ câu chuyện Thạch Sanh và văn hóa Tày: “Văn hóa muốn sống thì trước hết phải khiến người ta muốn biết về nó.”
Trên mạng xã hội, có giảng viên tại các trường đào tạo liên quan đến văn hóa, nghệ thuật chia sẻ mong muốn sử dụng những tiết mục trong chương trình như tư liệu để sinh viên cùng quan sát, thảo luận và phân tích.Điều này tạo nên một vòng đời khá hiếm đối với một sân khấu giải trí đại chúng vì những chất liệu vốn có thể được sinh viên tiếp cận qua giáo trình, hình ảnh tư liệu hay các buổi thực hành nay xuất hiện trong một sản phẩm âm nhạc hiện đại, với ánh sáng, âm thanh, trình diễn và tư duy kể chuyện gần gũi hơn với thế hệ trẻ.
Riêng ở sân khấu lấy cảm hứng từ Thạch Sanh, ê-kíp không lựa chọn kể lại câu chuyện cổ tích theo cách trực diện. Từ hình ảnh cây đàn thần, họ kết nối tới đàn tính, hát Then, lễ hội Lồng Tồng, múa sư tử mèo, múa bát và không gian văn hóa của người Tày. Theo Hoàng Rob, việc Hoàng Dũng là người dân tộc Tày cũng khiến ê-kíp nhận ra một sự kết nối tự nhiên để đưa không gian văn hóa này vào câu chuyện.
Nếu những phản ứng thông thường sau một chương trình giải trí thường là bình luận, video reaction hay những đoạn chia sẻ ngắn, Chương Văn hóa lại tạo ra một hiện tượng thú vị khác khi nhiều khán giả viết những bài phân tích dài, chỉn chu, có cấu trúc gần như những bài luận.
Họ lần theo từng biểu tượng trên sân khấu, tìm nguồn gốc của nhạc cụ, trang phục, nghi lễ, hình thức trình diễn, đặt các chi tiết cạnh truyền thuyết, lịch sử hay đời sống văn hóa của từng cộng đồng để lý giải lựa chọn của ê-kíp. Có những bài viết không chỉ dừng ở câu hỏi “tiết mục đẹp ở đâu”, mà tiếp tục đi tới “vì sao chi tiết này xuất hiện”, “nó thuộc không gian văn hóa nào” hay “cách đưa yếu tố truyền thống lên sân khấu hiện đại đã thay đổi ý nghĩa ban đầu ra sao”.
Sự yêu thích dành cho Chương Văn hóa còn được đẩy xa hơn khi nhiều khán giả đề xuất VTV, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hoặc các đơn vị tổ chức chương trình lớn lựa chọn một số tiết mục để trình diễn tại những sự kiện trọng đại của đất nước.
Đằng sau những đề xuất này là một thay đổi đáng chú ý trong cách công chúng nhìn nhận sân khấu văn hóa. Người xem không còn chỉ xem đây là một phần trình diễn phục vụ riêng cho một gameshow. Với họ, một số tiết mục đã đạt tới khả năng đại diện cho những hình ảnh văn hóa Việt trong một không gian trình diễn đại chúng bởi đủ gần gũi để khán giả phổ thông tiếp nhận, nhưng cũng đủ chất liệu để khơi gợi sự tìm hiểu sâu hơn.
Đồng thời, trên mạng xã hội xuất hiện nhiều video do người xem tự dựng, ghép nhạc từ Anh trai vượt ngàn chông gai với những hình ảnh từng tạo nhiều cảm xúc như các thước phim A50, A80, hình ảnh người lính, những khoảnh khắc bộ đội hỗ trợ người dân trong bão lũ hay các video về cảnh sắc và con người Việt Nam.
Đây không còn đơn thuần là hành vi sử dụng một bản nhạc đang được yêu thích làm âm thanh nền. Khi một ca khúc từ chương trình giải trí được người trẻ chủ động đặt cạnh hình ảnh lịch sử, quân đội, thiên nhiên hay những thời điểm cộng đồng cùng hướng về nhau, âm nhạc đã trở thành chất liệu để họ thể hiện tình cảm của mình với đất nước theo một ngôn ngữ rất riêng của thời đại mạng xã hội.
Nhìn từ những gì diễn ra sau Chương Văn hóa, sân khấu văn hóa có thể chỉ kéo dài vài phút. Nhưng sau khi ánh đèn tắt, vẫn có người tìm xem đàn tính là gì, viết vài nghìn chữ phân tích một tiết mục hay chọn chính bản nhạc ấy để kể câu chuyện về Việt Nam, thì văn hóa đã có thêm một đời sống khác. Đó mới là hiệu ứng dài nhất mà một sân khấu có thể để lại.