Đặc sản có tên "ngượng đỏ mặt", xưa chín rụng đầy nay được ưa chuộng giá 300.000 đ/kg, trồng một lần thu hoạch nhiều năm

H.A
Ớt chim có quả nhỏ xíu nhưng mùi thơm đặc trưng, vị cay vừa phải, không quá gắt. Từ loại ớt mọc tự nhiên ở vùng cao, nay loại quả này được biết đến nhiều hơn, giá lên tới 300.000 đồng/kg.

Nghe tên “ớt chim”, không ít người lần đầu biết đến loại quả này có thể hơi ngượng ngùng vì cách gọi khá đặc biệt. Thế nhưng, phía sau cái tên lạ tai ấy lại là một giống ớt rừng nhỏ xíu, có mùi thơm nổi bật, vị cay vừa phải và được xem là đặc sản của vùng núi Quảng Ngãi và các tỉnh Tây Nguyên. Có thời điểm, loại ớt này được bán với giá lên tới 300.000 đồng/kg nhưng không phải lúc nào cũng dễ mua.

Ớt chim có kích thước rất nhỏ, chỉ bằng một phần rất nhỏ so với các giống ớt thường được bán ở chợ. Dù bé, ớt lại có mùi thơm rõ và vị cay đặc trưng. Khi ăn, vị cay lan nhanh nhưng không quá gắt, không tạo cảm giác nóng rát kéo dài như một số loại ớt cay mạnh.

Cái tên ớt chim được người dân địa phương lý giải từ đặc điểm sinh trưởng của cây. Loại ớt này trước đây chủ yếu mọc hoang trên các vùng đồi núi, nương rẫy. Chim và các loài động vật ăn những quả chín rồi phát tán hạt, từ đó cây mới tiếp tục mọc ở những khu vực khác. Cách cây xuất hiện tự nhiên gắn với chim rừng lâu ngày khiến người dân quen gọi là ớt chim.

Trước đây, ớt chim gần như không được xem là một loại nông sản để buôn bán. Người dân vùng cao thường hái quả trong những chuyến đi rừng hoặc lên rẫy, mang về dùng trong bữa ăn. Quả tươi có thể giã với muối, làm nước chấm hoặc nêm vào các món ăn. Khi thu hoạch được nhiều, người dân đem phơi khô, xay thành bột để dành dùng dần.

Điều đặc biệt là cây ớt chim không cần những điều kiện chăm sóc cầu kỳ. Cây có thể mọc trên những vùng đất khô, nghèo dinh dưỡng và phát triển khá tự nhiên. Không giống các vùng chuyên canh ớt thường sử dụng phân bón, tưới nước và các biện pháp chăm sóc để tăng năng suất, ớt chim ở vùng núi chủ yếu được để tự sinh trưởng.

Chính cách phát triển này cũng khiến sản lượng ớt chim không cao. Cây thường mọc rải rác, quả nhỏ nên để hái được một lượng lớn phải mất khá nhiều thời gian. Người đi rẫy có khi mất cả ngày mới thu được khoảng 1 kg quả tươi, những ngày ít quả chỉ hái được vài trăm gram.

Khi nhu cầu của người tiêu dùng thành phố tăng lên, người dân bắt đầu giữ hạt để gieo trồng thay vì chỉ thu hái cây mọc tự nhiên. Tuy nhiên, cách trồng vẫn thiên về thuận tự nhiên. Khoảng tháng 3, hạt ớt được gieo trên rẫy, sau khoảng 3 tháng cây bắt đầu cho thu hoạch. Nếu thời tiết thuận lợi, người dân có thể thu hái liên tục trong khoảng 6 tháng.

Ớt chim có thể được đưa về trồng trong vườn nhà, nhưng theo kinh nghiệm của người dân, quả thu được thường có kích thước lớn hơn so với cây mọc tự nhiên. Trong khi đó, hương vị cũng có sự khác biệt, không thơm và đậm vị bằng những cây phát triển trên rẫy.

Bởi vậy, một số hộ không cố trồng ớt chim quá dày mà vẫn giữ khoảng cách nhất định giữa các cây, để cây phát triển theo điều kiện tự nhiên. Cách làm này khiến năng suất không quá cao nhưng giúp quả giữ được đặc điểm vốn có. Đây cũng là lý do ớt chim khó được sản xuất đại trà như các giống ớt thông thường.

Trên thị trường, ớt chim có thời điểm được bán khoảng 300.000 đồng/kg. Khi nguồn hàng khan hiếm, giá có thể tăng lên khoảng 400.000 đồng/kg. Mức giá cao nhưng nguồn cung hạn chế khiến người muốn mua số lượng lớn không dễ tìm được hàng.

Với những hộ trồng trên rẫy, ớt chim có thể mang lại khoản thu nhập đáng kể dù diện tích không lớn. Một cây có thể cho khoảng 0,5-1 kg quả trong mỗi đợt thu hoạch, tùy điều kiện sinh trưởng. Có gia đình chỉ trồng vài chục cây nhưng vẫn có thể thu hoạch nhiều đợt trong mùa.

Quả ớt chim sau khi thu hái được sử dụng theo nhiều cách. Người thích vị cay thơm có thể dùng quả tươi để giã muối, pha nước chấm hoặc cho vào các món cá, thịt, canh. Quả cũng có thể phơi khô rồi xay nhỏ thành bột, vừa dễ bảo quản vừa giữ được mùi thơm đặc trưng.