Trái bần, cái tên nghe có phần mộc mạc, thô kệch, nhưng ít ai biết rằng nó còn mang một cái tên rất đẹp: trái thủy liễu. Gắn bó lâu đời với người dân miền Tây Nam Bộ, trái bần không chỉ là một loại quả dại quen thuộc mà còn là biểu tượng của đời sống sông nước, của ký ức tuổi thơ và nay đã vươn mình trở thành một đặc sản có giá trị.

Trái bần có tên khoa học Sonneratia caseolaris, thuộc họ Bần, thường xuất hiện ở các bãi bùn thủy triều nhiệt đới, trải dài từ châu Phi đến Đông Nam Á. Ở Việt Nam, cây bần mọc nhiều tại vùng đồng bằng sông Cửu Long, nơi có hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt. Ở đâu có sông, có vàm, có cù lao, ở đó dễ dàng bắt gặp những hàng bần xanh tốt, thậm chí mọc thành rừng.
Quả bần có hình tròn, hơi dẹt, phần đuôi nhọn, cuống xòe ra như hình ngôi sao rất đặc trưng. Khi còn non, vỏ có màu xanh, vị chua và hơi chát; khi chín chuyển sang vàng, tỏa mùi thơm nhẹ và có vị chua ngọt hài hòa. Bên trong quả chứa rất nhiều hạt nhỏ. Nhìn thoáng qua, trái bần có dáng dẹt giống như chiếc bánh cam, giản dị nhưng rất dễ nhận biết.

Ở miền Tây, người dân thường phân biệt hai loại bần: bần dĩa và bần ổi. Bần dĩa mọc ven sông, trái to, dẹt; trong khi bần ổi có kích thước nhỏ hơn, tròn như trái ổi, vị ngọt dịu và được ưa chuộng trồng hơn. Mỗi năm, cây bần bắt đầu ra hoa từ khoảng tháng 6 âm lịch và đến tháng 9 thì trái chín rộ, tạo nên một mùa thu hoạch đặc trưng của vùng sông nước.
Từ lâu, trái bần đã gắn liền với tuổi thơ của nhiều người dân miền Tây. Với những gia đình khó khăn, bần từng là nguyên liệu quen thuộc trong bữa ăn hằng ngày: khi thì nấu canh chua, khi thì ăn kèm muối ớt hoặc mắm ruốc. Vị chua thanh, bùi nhẹ của bần tạo nên hương vị rất riêng, khác hẳn với me hay mẻ. Không ít người dù đi xa vẫn nhớ mãi hương vị ấy như một phần ký ức quê hương.

Trước đây, do không mang lại giá trị kinh tế cao, nhiều nơi đã chặt bỏ cây bần để trồng các loại cây ăn quả khác. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, trái bần dần được “đánh thức” giá trị. Từ một loại quả dại, bần trở thành đặc sản được ưa chuộng, xuất hiện trong thực đơn nhà hàng và được chế biến thành nhiều sản phẩm như nước cốt bần, bột bần, mứt bần, rượu bần hay bần sấy khô. Không chỉ tiêu thụ trong nước, các sản phẩm từ bần còn được xuất khẩu.
Trên thị trường, trái bần tươi và bần khô được rao bán khá phổ biến, phục vụ nhu cầu của người tiêu dùng khắp các tỉnh thành. Đặc biệt, bần khô với quy trình chế biến công phu, không sử dụng chất bảo quản đang được nhiều người ưa chuộng, vừa để thưởng thức vừa làm quà biếu. Trên chợ mạng, trái bần tươi có giá 50.000 đồng/kg, còn trái bần khô giá 150.000 đồng/kg.
Về đặc điểm sinh trưởng, cây bần là loài thân gỗ, cao trung bình từ 10–15m, có thể đạt tới 25m trong điều kiện thuận lợi. Thân cây phân nhiều cành, các cành non có màu đỏ và chia thành từng đốt phình. Bộ rễ phát triển mạnh, cắm sâu xuống bùn và mọc nhiều rễ phụ nhô lên trên mặt đất – một đặc điểm thích nghi với môi trường ngập nước.

Hiện nay, ngoài việc mọc tự nhiên, cây bần – đặc biệt là bần ổi (Sonneratia ovata) – còn được nhiều người trồng để khai thác kinh tế. Cây phù hợp với vùng đất bùn, ven sông, khu vực ngập mặn, không đòi hỏi chăm sóc phức tạp. Người trồng có thể nhân giống bằng hạt hoặc cây con. Sau khoảng 3 năm, cây bắt đầu ra hoa, kết trái và cho thu hoạch ổn định. Nhờ khả năng sinh trưởng mạnh, chịu nước tốt và ít sâu bệnh, bần được xem là loại cây tiềm năng trong phát triển kinh tế kết hợp bảo vệ môi trường.