Ổi bo Hưng Yên (khu vực tỉnh Thái Bình cũ) từng là thức quả quen thuộc với người dân địa phương, nổi tiếng bởi phần cùi dày, ít hạt, thịt giòn chắc và hương thơm đặc trưng. Thế nhưng, giống ổi truyền thống này ngày càng hiếm trên thị trường do ít người còn trồng, mỗi năm chỉ cho thu hoạch một vụ ngắn. Hiện nay, loại quả này được bán với giá khoảng 30.000-45.000 đồng/kg tại khu vực cầu Bo hoặc trên chợ mạng, người muốn tìm mua ổi bo chính gốc vẫn không dễ có được, bởi nhiều người đăng bán ổi bo thực chất là các giống ổi lai.

Ổi bo gắn liền với vùng đất ven sông Trà Lý, thuộc làng Bo, nay là phường Trà Lý, tỉnh Hưng Yên. Theo người dân địa phương, giống ổi này ban đầu còn được gọi là ổi lê. Nhờ phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, cây dần được trồng phổ biến ở làng Bo và Bồ Xuyên. Đến mùa quả chín, người dân mang ổi ra khu vực chân cầu Bo bán, lâu dần cái tên ổi bo trở nên quen thuộc và gắn với đặc sản của vùng.
Điểm khiến ổi bo được nhiều người nhớ đến nằm ở hình dáng và chất lượng quả. Ổi chính gốc thường có kích thước vừa phải, không nhỏ như một số giống ổi ta truyền thống nhưng cũng không quá lớn như nhiều loại ổi lai phổ biến hiện nay. Quả có phần thịt chắc, cùi dày, ít hạt, không bị xốp và khi ăn tạo cảm giác giòn rõ rệt.
Ổi bo truyền thống có hai dạng phổ biến là bo dẹ và bo lê. Ổi bo dẹ thường có quả tròn, hơi dẹt, cuống rốn nhỏ, bề mặt nổi múi khá rõ. Trong khi đó, bo lê có dáng thuôn dài hơn, phần dưới quả thường nở rộng, trông gần giống quả lê. Ngoài ra, một số quả có hình dáng gợi liên tưởng đến quả cam dẹt hoặc có múi nổi, khe sâu.

Dù khác nhau về hình thức, các loại ổi bo vẫn được nhận biết chủ yếu nhờ phần ruột nhỏ, cùi dày, thịt chắc và hương thơm riêng. Khi bổ ra, quả không có phần ruột mềm, nhiều hạt như một số giống ổi khác. Đây cũng là đặc điểm khiến những người từng thưởng thức ổi bo lâu năm có thể phân biệt với các loại ổi được bán dưới tên gọi tương tự.
Hương vị của ổi bo là sự kết hợp khá đặc biệt. Khi vừa cắn miếng đầu tiên, người ăn có thể cảm nhận vị chát nhẹ, đôi khi xen chút chua dịu, sau đó vị ngọt dần lan trong miệng. Thịt quả giòn, chắc, có độ ngậy nhẹ và hương thơm lưu lại khá lâu sau khi ăn. Người sành ổi thường cho rằng chính dư vị này tạo nên sự khác biệt của ổi bo so với nhiều giống ổi lai hiện nay.
Ổi bo cũng được người địa phương truyền miệng là loại quả hội tụ nhiều sắc thái hương vị như thơm, ngọt, ngậy, giòn, đôi khi hơi xốp tùy độ chín; quả còn xanh có vị chát rõ hơn, trong khi quả chín già có thể xuất hiện vị ngọt pha chua. Vì vậy, độ chín khi thu hoạch cũng ảnh hưởng đáng kể đến trải nghiệm thưởng thức.

Giống ổi này nay không còn phổ biến như trước. Ổi bo chính gốc có mùa thu hoạch khá ngắn, thường rơi vào tháng 7-8 hằng năm. Sau mùa thu hoạch, người tiêu dùng gần như không thể tìm được ổi bo tươi đúng vụ. Trong khi đó, diện tích trồng giống ổi truyền thống ngày càng thu hẹp, nguồn cung không nhiều, khiến việc tìm mua càng khó khăn. Trên thị trường, không ít người bán giới thiệu sản phẩm là ổi bo , nhưng hình dáng, kích thước và chất lượng quả có thể khác biệt đáng kể so với giống gốc.
Một trong những nguyên nhân gây nhầm lẫn là giống ổi bo có thể được nhân giống và đưa đến những vùng đất khác trồng thử. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của người trồng lâu năm, cây sinh trưởng ở điều kiện thổ nhưỡng khác có thể cho chất lượng quả không giống cây trồng tại vùng đất nguyên thổ. Vì thế, chỉ dựa vào tên giống hoặc lời quảng cáo chưa đủ để khẳng định đó là ổi bo chính gốc.
Hiện nay, người tiêu dùng có thể tìm mua ổi bo tại khu vực gần cầu Bo hoặc thông qua các hội nhóm, gian hàng trái cây trên mạng xã hội với giá khoảng 30.000-45.000 đồng/kg.

Để duy trì giống ổi truyền thống, việc chăm sóc và nhân giống cũng là vấn đề không đơn giản. Cây ổi bo có bộ rễ tương đối yếu, dễ bị đổ khi gặp gió bão. Cây cần được trồng ở nơi phù hợp, có đủ ánh sáng để tán phát triển và nuôi quả. Quả non cũng dễ bị ruồi vàng gây hại, do đó người trồng thường phải bọc quả từ khi còn nhỏ nếu muốn bảo đảm chất lượng thu hoạch.