Đó là trường hợp bà P.T.Q (66 tuổi, ở Hà Nội), xuất hiện tình trạng bị chóng mặt, đi lại loạng choạng kèm đau vùng sau đầu. Dù đã đi khám và làm các xét nghiệm nhưng bác sĩ chỉ ghi nhận tình trạng rối loạn lipid máu và người bệnh được điều trị theo hướng tăng huyết áp kết hợp rối loạn tiền đình bằng thuốc hạ huyết áp, hạ mỡ máu, thuốc chống chóng mặt và tăng tuần hoàn não.
Tuy nhiên, sau 3 ngày điều trị, các triệu chứng vẫn kéo dài và không có dấu hiệu thuyên giảm. Cảm giác mất thăng bằng ngày càng rõ khiến việc đi lại, sinh hoạt hằng ngày gặp nhiều khó khăn. Lo ngại tình trạng sức khỏe diễn biến bất thường, bệnh nhân quyết định đến bệnh viện thăm khám.
ThS.BS Bùi Thị Thanh - Chuyên khoa Thần kinh, cho biết, khi tới khám người bệnh hoàn toàn tỉnh táo, không yếu liệt, không có dấu hiệu tổn thương các dây thần kinh sọ, không rối loạn cảm giác và chưa ghi nhận hội chứng tiểu não - nhóm triệu chứng thường gây mất phối hợp vận động, mất thăng bằng.

Đôi khi những cơn chóng mặt là dấu hiệu cảnh báo nguy cơ bị nhồi máu não. Ảnh minh họa.
Kết quả khám lâm sàng gần như không ghi nhận các dấu hiệu thần kinh điển hình của đột quỵ. Tuy nhiên, từ các yếu tố nguy cơ như tuổi cao, tiền sử tăng huyết áp, rối loạn lipid máu cùng diễn biến chóng mặt kéo dài nhưng không đáp ứng điều trị, các bác sĩ vẫn không loại trừ khả năng đột quỵ. Vì thế, người bệnh được chỉ định chụp cộng hưởng từ (MRI) não kết hợp khảo sát hệ thống mạch máu để tìm nguyên nhân.
Kết quả MRI ghi nhận ổ nhồi máu não cấp tại thùy chẩm phải, kèm dấu hiệu nghi hẹp hoặc tắc đoạn xa động mạch não sau phải. Điều đó cho thấy những cơn chóng mặt kéo dài của người bệnh không đơn thuần là rối loạn tiền đình như nhận định ban đầu mà là biểu hiện của một cơn đột quỵ thiếu máu não.
Bác sĩ Thanh cho biết, đây là nhóm đột quỵ có biểu hiện không điển hình. Chính vì triệu chứng ban đầu chủ yếu là chóng mặt và mất thăng bằng, nhiều trường hợp dễ bị nhầm với rối loạn tiền đình hoặc các bệnh lý lành tính khác, dẫn đến chậm trễ trong chẩn đoán và điều trị. Từ kết quả MRI, người bệnh tiếp tục được chỉ định siêu âm Doppler mạch máu ngoại sọ. Các thăm dò cho thấy tình trạng xơ vữa động mạch lan tỏa với nhiều tổn thương nặng. Theo ThS.BS Thanh, đây không phải những tổn thương xuất hiện đột ngột mà là hậu quả của quá trình xơ vữa động mạch diễn tiến âm thầm trong nhiều năm.
Dưới tác động của tuổi tác, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu và các yếu tố nguy cơ tim mạch khác, cholesterol cùng các thành phần lipid tích tụ dần trên thành mạch, hình thành các mảng xơ vữa. Khi mảng xơ vữa phát triển lớn, lòng mạch sẽ hẹp dần, làm giảm lượng máu nuôi não. Nếu mảng xơ vữa nứt vỡ, cục máu đông có thể hình thành và gây bít tắc mạch máu, dẫn đến nhồi máu não.

Khi có cảm giác mất thăng bằng, chóng mặt kèm theo các yếu tố nguy cơ khác thì nên đến cơ sở y tế chuyên khoa được được thăm khám, tuyệt đối không chủ quan. Ảnh minh họa.
Sau khi xác định được nguyên nhân, các bác sĩ tiến hành đánh giá mức độ hẹp mạch và nguy cơ của người bệnh để xây dựng chiến lược điều trị. Với những trường hợp đã xảy ra đột quỵ hoặc cơn thiếu máu não thoáng qua như bà P.T.Q, việc điều trị không chỉ dừng lại ở kiểm soát triệu chứng mà cần cân nhắc can thiệp mạch máu nếu có chỉ định.
Sau điều trị nội trú bằng thuốc chống kết tập tiểu cầu kép, statin và kiểm soát huyết áp, tình trạng chóng mặt và mất thăng bằng của người bệnh cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên, do vẫn còn hẹp nặng hệ động mạch cảnh, bệnh nhân tiếp tục được tư vấn đến chuyên khoa can thiệp mạch máu để đánh giá chỉ định tái thông và xây dựng kế hoạch điều trị lâu dài, cá thể hóa theo mức độ tổn thương và nguy cơ của từng người bệnh.
Các chuyên gia khuyến cáo, người dân cần đi khám ngay khi xuất hiện tình trạng chóng mặt kéo dài, mất thăng bằng hoặc các dấu hiệu thần kinh như nói khó, nhìn mờ, tê yếu tay chân.
Đặc biệt, người trên 50 tuổi hoặc có các yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, bệnh tim mạch cần được thăm khám tại cơ sở y tế có chuyên khoa để xác định chính xác nguyên nhân và can thiệp kịp thời, hạn chế nguy cơ đột quỵ cũng như những biến chứng nặng nề.