Cây mọc bờ rào được ví như "vua thải độc", trồng một lần hái bán quanh năm, thành đặc sản lạ ở thành phố

H.A
Không chỉ gây ấn tượng bởi hương vị đắng nhẹ đặc trưng, loại rau này còn được ví như “vua thải độc” nhờ những lợi ích tốt cho sức khỏe. Nhờ trồng bồ công anh và các sản phẩm từ bồ công anh, nhiều hộ dân có nguồn thu nhập đáng kể.

Cây bồ công anh vốn là cỏ dại mọc ở bờ rào, ven đường hay bãi đất hoang nay lại “lột xác” trở thành một đặc sản lạ được người thành phố săn tìm, không chỉ bởi hương vị riêng mà còn nhờ những giá trị dinh dưỡng và công dụng tốt cho sức khỏe.

Rau bồ công anh còn được gọi là diếp dại, diếp trời hay diếp hoang, có tên khoa học Lactuca indica L., thuộc họ Cúc (Asteraceae). Đây là loài cây thân thảo, mọc thẳng, chiều cao có thể từ 60 đến 200 cm, lá có hình răng cưa hoặc chia thùy, hoa thường có màu vàng hoặc tím. Cây phát triển mạnh vào mùa mưa và phân bố rộng rãi ở nhiều tỉnh miền Bắc và miền Trung. Trước kia, chỉ cần bước ra vườn hay ra bờ ruộng là người dân đã có thể dễ dàng hái được loại rau này về làm thức ăn hằng ngày.

Điểm đặc trưng khiến bồ công anh khác biệt so với nhiều loại rau khác chính là hương vị. Lá bồ công anh có vị đắng nhẹ, ban đầu có thể khiến người ăn chưa quen cảm thấy khó chịu. Tuy nhiên, sau vị đắng ấy lại là hậu vị ngọt thanh, mát lành, càng ăn càng cảm nhận rõ độ bùi và hấp dẫn. Chính hương vị “đắng mà ngon” này đã tạo nên nét riêng cho các món ăn từ bồ công anh, khiến nhiều người nhớ mãi.

Lá non thường được dùng nấu canh với tôm hoặc thịt bằm, tạo nên món canh thanh mát, giải nhiệt rất tốt trong những ngày hè. Ngoài ra, rau bồ công anh còn có thể xào tỏi, xào bò hoặc làm nộm. Đặc biệt, phần cuống hoa sau khi được sơ chế kỹ, ngâm nước muối và chanh sẽ có độ giòn, xoăn đẹp mắt, khi trộn cùng rau thơm, lạc rang và nước mắm chua ngọt sẽ tạo thành món nộm vừa lạ miệng vừa hấp dẫn.

Không chỉ là thực phẩm, bồ công anh còn được xem như một vị thuốc quý trong dân gian. Theo Đông y, loại rau này có vị ngọt, hơi đắng, tính mát, giúp thanh nhiệt, giải độc, tiêu viêm và lợi tiểu. Nhờ khả năng hỗ trợ làm mát cơ thể và cải thiện chức năng gan, bồ công anh còn được ví như “vua thải độc” tự nhiên. 

Những năm gần đây, bồ công anh trở thành đặc sản nổi tiếng được nhiều người ưa chuông. Tại nhiều chợ ở Hà Nội hay trên các sàn thương mại điện tử, rau bồ công anh tươi có giá khoảng 40.000 – 60.000 đồng/kg, trong khi loại phơi khô có thể lên tới 120.000 đồng/kg, thậm chí cao hơn tùy chất lượng. Một số nơi còn trồng bồ công anh với quy mô nhỏ để cung cấp ổn định cho thị trường, thay vì chỉ khai thác từ tự nhiên.

Bồ công anh còn là loại cây dễ trồng, dễ chăm sóc, phù hợp với cả những người không có nhiều kinh nghiệm làm vườn. Cây có vòng đời ngắn, chỉ từ 3–5 tháng, và trong một năm có thể trồng được khoảng 3 vụ, giúp người trồng dễ dàng xoay vòng sản xuất. Nhờ đặc tính sinh trưởng nhanh, bồ công anh có thể thu hoạch lá liên tục, vừa phục vụ nhu cầu gia đình, vừa có thể bán ra thị trường.

Bồ công anh cũng phù hợp với không gian nhỏ như ban công hay sân thượng. Chỉ cần đất tơi xốp, thoát nước tốt, tưới nước vừa phải và bổ sung dinh dưỡng định kỳ, cây có thể sinh trưởng tốt và cho thu hoạch. Sau khoảng 6–8 tuần trồng, người trồng đã có thể thu hái lá non để sử dụng. Nếu chăm sóc đúng cách, cây sẽ liên tục ra lá mới, giúp cung cấp nguồn rau sạch lâu dài cho gia đình.

Bên cạnh đó, việc sản xuất trà bồ công anh cũng mang lại thu nhập cho nhiều người. Người trồng chỉ cần thu hái lá, rửa sạch, đem phơi và sấy khô kỹ để bảo quản lâu dài. Sau đó, nguyên liệu được xay nhỏ và đóng gói thành túi lọc tiện dụng. Đây là sản phẩm hoàn toàn tự nhiên, giữ nguyên mùi vị đặc trưng của cây, không sử dụng bất kỳ loại hóa chất nào, nên ngày càng được người tiêu dùng tin tưởng lựa chọn.