Trước đây, lá xương sông chỉ là loại rau gia vị mọc dại ven bờ rào, góc vườn hay bìa rừng ở nhiều vùng quê. Thế nhưng nhờ hương thơm tinh dầu đặc trưng, vị cay ấm dễ chịu và khả năng làm dậy hương cho món ăn, loại lá dân dã này ngày càng được nhiều người tìm mua. Không chỉ là "linh hồn" của món chả lá xương sông nổi tiếng, loại rau này còn góp mặt trong nhiều món ngon truyền thống và được bán trên chợ mạng với giá khoảng 70.000 đồng/kg.

Xương sông còn có tên gọi khác là xanh sông, tên khoa học Blumea lanceolaria, thuộc họ Cúc (Asteraceae). Đây là loài cây thân thảo sống khoảng hai năm, cao từ 0,6-2m, thân mọc thẳng, lá hình trứng thuôn dài, mép có răng cưa, gân lá nổi rõ. Hoa mọc ở nách lá, màu vàng nhạt, sau khi kết quả tạo thành những quả hình trụ nhỏ có năm cạnh khá đặc biệt.
Tuy nhiên, phần được sử dụng nhiều nhất của cây chính là lá. Lá xương sông chứa nhiều tinh dầu nên khi vò nhẹ sẽ tỏa ra mùi thơm nồng đặc trưng. Mùi hương này hơi hăng, cay và ấm, nhưng khi được làm chín lại trở nên dịu hơn, quyện vào thực phẩm tạo nên hương vị rất riêng mà khó có loại rau gia vị nào thay thế được.
Loài cây này phân bố khá rộng ở nhiều nước Nam Á và Đông Nam Á. Tại Việt Nam, xương sông mọc dại ở cả miền Bắc lẫn miền Nam, thường xuất hiện ở ven rừng, bờ rào, nương rẫy hoặc trong các khu vườn. Từ nhiều đời nay, người dân đã biết hái lá về làm gia vị và chế biến thành nhiều món ăn dân dã.

Điểm hấp dẫn nhất của lá xương sông nằm ở hương thơm tinh dầu. Nếu ăn sống, lá có vị cay nhẹ, hơi the và mùi hăng đặc trưng. Khi nướng hoặc xào, tinh dầu tiết ra khiến món ăn thơm lừng, kích thích vị giác. Không chỉ làm tăng hương vị, lá xương sông còn giúp khử mùi tanh của cá, ốc, trai hay các loại nội tạng nên thường được kết hợp với những nguyên liệu này.
Nhắc đến lá xương sông, nhiều người sẽ nghĩ ngay đến món chả lá xương sông - một trong những món ăn đặc trưng của miền Bắc. Những chiếc lá bánh tẻ được cuốn quanh phần thịt băm đã tẩm ướp gia vị rồi đem nướng trên than hoa hoặc rán vàng. Khi chín, lớp lá bên ngoài hơi cháy xém, tỏa mùi thơm quyến rũ, phần nhân bên trong mềm, ngọt và đậm đà. Hương thơm của lá hòa quyện với vị béo của thịt tạo nên món ăn khiến nhiều người chỉ cần ngửi mùi đã thấy thèm.

Ngoài món chả nổi tiếng, lá xương sông còn được sử dụng trong rất nhiều món ăn khác. Lá non thường được ăn sống cùng các loại rau thơm, dùng kèm gỏi hoặc các món cuốn. Trong khi đó, lá bánh tẻ và lá già được băm nhỏ hoặc để nguyên lá để chế biến thành xương sông xào ốc chuối, canh trai nấu lá xương sông, canh tiết, canh cá nấu chuối, chả ức gà lá xương sông hay cà xào cùng tía tô và lá xương sông.
Ở Tây Ninh, lá xương sông còn là thành phần quen thuộc trong mẹt rau rừng ăn cùng bánh tráng phơi sương Trảng Bàng. Vị cay thơm của lá giúp cân bằng vị béo của thịt luộc, làm nổi bật hương vị nước chấm và tạo nên nét độc đáo cho món đặc sản nổi tiếng này.
Ngày trước, xương sông mọc nhiều đến mức ít ai nghĩ sẽ có ngày loại lá này trở thành hàng hóa. Người dân quê chỉ cần ra vườn hoặc ven bờ rào là có thể hái về nấu ăn. Hiện nay, cùng với xu hướng tìm về những món ăn truyền thống và rau gia vị tự nhiên, lá xương sông được bán phổ biến tại các chợ dân sinh, cửa hàng thực phẩm sạch và chợ mạng với giá khoảng 70.000 đồng/kg.

Nhiều hộ gia đình chủ động trồng xương sông để phục vụ nhu cầu sử dụng hoặc bán ra thị trường. Đây là loại cây khá dễ trồng, có thể gieo hạt hoặc giâm cành, thích hợp với khí hậu nóng ẩm của Việt Nam. Cây sinh trưởng tốt trên đất tơi xốp, giàu mùn, thoát nước tốt và cần được tưới giữ ẩm thường xuyên, đặc biệt trong giai đoạn mới trồng.
Một ưu điểm của xương sông là ít sâu bệnh, không đòi hỏi chăm sóc cầu kỳ. Sau khoảng 2 tháng, cây đã có thể cho thu hoạch lứa lá đầu tiên. Khi cắt lá, cây tiếp tục đâm chồi mới nên có thể thu hoạch nhiều lần trong năm. Chính vì vậy, nhiều gia đình ở thành phố cũng tận dụng khoảng sân nhỏ, ban công hoặc thùng xốp để trồng vài khóm xương sông, vừa có rau sạch dùng quanh năm, vừa tiết kiệm chi phí.