Loại quả xưa rụng đầy gốc nay thành đặc sản ở thành phố, trồng một lần thu hoạch nhiều năm, 200.000 đồng/kg

H.A
Quả mắc mật được xem là “linh hồn” tạo nên hương vị cho nhiều món quay, món nướng nổi tiếng nhờ mùi tinh dầu rất thơm. Mấy năm nay, nhiều hộ dân trồng cây mắc mật, đến mùa thu hoạch bán đi khắp các tỉnh thành.

Nhắc tới những loại gia vị đặc trưng của vùng núi phía Bắc, nhiều người sẽ nhớ ngay đến quả mắc mật – loại quả kích thước nhỏ nhưng có hương thơm rất riêng, chỉ cần thoảng qua cũng đủ khiến món ăn dậy vị. Vào khoảng tháng 6, tháng 7 hàng năm, khi những chùm mắc mật chín vàng lúc lỉu cũng là lúc người dân ở Lạng Sơn, Sơn La, Cao Bằng… bước vào mùa thu hái để bán khắp nơi. Từ loại quả mọc hoang trong rừng, mắc mật nay đã trở thành đặc sản được nhiều người thành phố săn tìm.

Mắc mật còn được gọi là “hồng bì núi” vì nhìn bề ngoài khá giống quả hồng bì nhưng kích thước nhỏ hơn. Quả có dạng hình cầu, đường kính khoảng 1-1,3cm, khi non màu xanh đậm, đến lúc chín chuyển sang trắng ngà hoặc trắng trong rất đẹp mắt. Vỏ quả chứa nhiều tinh dầu nên chỉ cần bóp nhẹ đã tỏa ra mùi thơm đặc trưng, vừa thanh vừa hơi cay nhẹ.

Điểm khiến mắc mật được yêu thích chính là hương vị rất riêng. Quả có vị chua ngọt dịu, hơi tê đầu lưỡi, ăn tươi đã ngon nhưng khi dùng làm gia vị càng nổi bật hơn. Người dân vùng cao từ lâu đã dùng cả lá lẫn quả mắc mật để chế biến món ăn. Lá mắc mật thơm đậm nên thường được nhồi vào bụng vịt quay, lợn quay hay dùng ướp thịt nướng. Đây cũng là bí quyết tạo nên hương vị nổi tiếng cho món vịt quay Lạng Sơn hay lợn quay Cao Bằng.

Ngoài quả tươi, nhiều gia đình còn phơi khô mắc mật để dùng quanh năm. Quả khô có thể kho cá, kho thịt hoặc nghiền thành bột làm gia vị. Người sành ăn cho biết mắc mật khô ngon khi tách đôi vẫn còn độ dẻo và lớp keo nhẹ bên trong, nếm có vị chua ngọt cùng hương thơm rõ rệt.

Không chỉ dùng trong các món nướng, mắc mật còn xuất hiện trong nhiều món ăn dân dã của người miền núi như cá kho mắc mật, chân giò ninh mắc mật hay măng ớt ngâm mắc mật. Chỉ cần thêm vài quả vào món ăn, hương vị đã trở nên đậm đà hơn hẳn. Đặc biệt, măng ớt ngâm mắc mật được nhiều người yêu thích bởi vị chua giòn của măng hòa với mùi thơm của quả mắc mật và vị cay nồng của ớt rất bắt miệng.

Những năm gần đây, nhu cầu tiêu thụ mắc mật ở thành phố tăng mạnh nên loại quả này ngày càng có giá trị kinh tế cao. Trên chợ mạng, mắc mật tươi được bán khoảng 70.000 đồng/kg, còn mắc mật khô có thể lên tới 200.000 đồng/kg. Nhiều nhà hàng chuyên món quay, món nướng cũng đặt mua số lượng lớn để làm gia vị.

Hiện này, nhiều hộ dân còn mở rộng diện tích trồng mắc mật ở vườn và bờ rào vì loại cây này dễ chăm sóc và cho thu hoạch bền vững. Cây mắc mật thuộc dạng cây gỗ nhỏ, cao trung bình từ 3-6m, có thể cao hơn nếu phát triển lâu năm. Cây ưa nắng, chịu hạn tốt, thích hợp với vùng đồi núi và đất thoát nước.

Mắc mật thường ra hoa vào khoảng tháng 3 đến tháng 5. Sau đó cây kết quả và đến mùa hè thì quả chín rộ. Cây trồng từ 4-5 năm đã bắt đầu cho thu hoạch. Những cây trưởng thành từ 25-30 năm tuổi thường đạt năng suất cao nhất, trung bình mỗi cây có thể cho từ 40-60kg quả mỗi năm. Thậm chí có cây tuổi thọ tới 40 năm vẫn tiếp tục cho quả ổn định.

Nhiều người đánh giá mắc mật là loại cây “trồng một lần, thu nhiều năm”. Bởi cây ít sâu bệnh, không cần chăm sóc cầu kỳ nhưng giá trị kinh tế khá cao. Hiện nay, ngoài việc bán quả tươi, người dân còn bán lá, quả khô, bột mắc mật và cả cây giống để tăng thêm thu nhập.

Không chỉ thơm ngon, quả mắc mật còn chứa nhiều vitamin C. Trong khi đó, lá mắc mật giàu protein, sắt, mangan và canxi. Nhờ chứa tinh dầu tự nhiên nên cả lá và quả đều có mùi thơm dễ chịu, giúp món ăn hấp dẫn hơn.