Ở An Giang có một loại trái nghe tên lạ nhưng hương thơm lại khiến nhiều người nhớ mãi sau lần đầu thưởng thức, đó là trái chúc. Từ một loại cây mọc hoang nơi bờ bụi khô cằn hay bờ rào, từng có thời điểm đứng trước nguy cơ mai một, nay chúc đã trở thành đặc sản nổi tiếng, xuất hiện trong nhiều món ăn hấp dẫn và mang lại nguồn thu đáng kể cho người dân địa phương.

Trái chúc còn được gọi là trái trúc hay trái trấp, thuộc họ cam chanh, có nguồn gốc từ khu vực Đông Nam Á như Lào, Thái Lan, Indonesia và Malaysia. Ở Việt Nam, cây chúc được trồng nhiều nhất tại An Giang.
Thoạt nhìn, cây chúc khá giống cây chanh nhưng lại có nhiều đặc điểm rất dễ nhận biết. Cây thuộc dạng thân gỗ, có thể cao từ 2 đến 10m, thân có gai và sinh trưởng khỏe. Lá chúc đặc biệt hơn lá chanh vì ở giữa có phần thắt eo giống hình số 8. Chỉ cần vò nhẹ lá là mùi tinh dầu thơm nồng đã lan tỏa rất rõ, hương thơm đậm và giữ lâu hơn nhiều loại lá gia vị khác.
Trái chúc có kích thước lớn hơn chanh, vỏ dày và sần sùi. Khi còn non, trái mang màu xanh lục, đến lúc chín chuyển vàng óng. Bên trong là phần thịt màu vàng xanh, ít nước nhưng vị chua lại rất mạnh, hơi the nơi đầu lưỡi. Chính vị chua thanh xen lẫn hương thơm nồng đặc trưng ấy khiến trái chúc trở thành loại gia vị không thể thay thế trong nhiều món ăn miền Tây.


Người dân nơi đây thường dùng cả lá lẫn trái chúc để chế biến món ăn. Hương thơm của chúc có khả năng khử mùi tanh rất tốt, đặc biệt phù hợp với các món gà, bò, cá, lươn hay rắn. Nổi tiếng nhất phải kể đến món gà đốt Ô Thum. Trong quá trình nướng gà, đầu bếp lót bên dưới lớp sả và lá chúc dày để hương thơm thấm sâu vào từng thớ thịt. Khi ăn, phần nước chấm pha từ nước cốt chúc, lá chúc xắt nhuyễn cùng gia vị tạo nên vị chua mặn ngọt hài hòa, giúp món ăn thêm đậm đà và hấp dẫn.
Không chỉ gà đốt, lá chúc còn xuất hiện trong hàng loạt món ngon như cá nướng lá chúc, bò nướng lá chúc, cá lóc hấp lá chúc, lẩu lá chúc hay khô gà lá chúc. Chỉ cần thêm vài lát lá chúc thái nhỏ, món ăn đã dậy lên mùi thơm rất riêng mà không loại lá nào thay thế được.

Ngày trước, cây chúc chủ yếu mọc hoang ở những vùng đất khô cằn. Vì số lượng ít nên loại cây này từng được xem là rất quý. Người dân thường trồng vài cây quanh nhà để làm gia vị, làm thuốc hoặc xua đuổi rắn bò vào nhà. Theo kinh nghiệm dân gian, cả lá và trái chúc đều có thể dùng để giải cảm, trị nghẹt mũi, khó tiêu. Phụ nữ còn dùng trái chúc gội đầu để tóc mềm mượt, thơm lâu và giúp dễ ngủ hơn.
Hiện nay, nhận thấy giá trị kinh tế của cây chúc, nhiều hộ dân ở đây đã mở rộng diện tích trồng. Cây chúc khá dễ sống, ít sâu bệnh, thích hợp với khí hậu nắng nóng và đất đồi núi. Người dân có thể nhân giống bằng hạt, chiết cành hoặc ghép cây. Trong đó, phương pháp ươm hạt được áp dụng phổ biến vì dễ thực hiện. Những trái chúc già sau khi thu hoạch sẽ được tách hạt đem ươm, trung bình 1kg trái có thể cho khoảng 300 cây giống.
Tuy nhiên, cây chúc sinh trưởng khá chậm. Thông thường phải mất từ 5 đến 8 năm cây mới bắt đầu cho trái. Bù lại, cây càng lâu năm thì trái càng sai và chất lượng càng tốt. Mỗi năm, cây ra trái rộ vào mùa mưa, khoảng từ tháng 6 đến tháng 8 âm lịch, dù hiện nay nhiều cây vẫn có thể cho trái quanh năm.

Nhờ nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng, trái chúc giờ đây không chỉ bán tại địa phương mà còn xuất hiện trên chợ mạng và các cửa hàng đặc sản khắp nơi. Có thời điểm giá bán lên đến khoảng 170.000 đồng/kg, nhất là vào mùa khan hiếm. Ngoài trái tươi, nhiều cơ sở còn sản xuất tinh dầu chúc, xà bông, nước rửa tay hay serum dưỡng tóc từ phần vỏ chứa hàm lượng tinh dầu cao.