Hai đứa trẻ: Khi tổ ấm “vỡ tan” và một nỗi đau mang tên bạo hành

Chỉ trong vài ngày, câu chuyện hai đứa trẻ bị chính mẹ ruột bạo hành khi sống cùng người “chồng hờ” đã để lại nỗi ám ảnh và day dứt. Sau tất cả, dư luận không chờ đợi bản án từ phiên toà xét xử mà chính “tòa án lương tâm” của những bậc làm cha mẹ, là hai từ trách nhiệm trước sự hiện diện của một đứa trẻ non nớt trên cõi đời.

Ngày 7/5, Nguyễn Minh Hiệp (SN 2004) và Bàn Thị Tâm (SN 2006) đã bị Cơ quan CSĐT Công an TP Hà Nội khởi tố về tội Giết người. Nạn nhân là bé gái 4 tuổi, con ruột của Tâm.

Trước đó, bé H. được đưa vào Bệnh viện E trong tình trạng ngừng tuần hoàn, hôn mê sâu, trên cơ thể có nhiều vết bầm tím, tỷ lệ tổn thương cơ thể theo giám định sơ bộ lên tới 99%. Dù được các bác sĩ nỗ lực cứu chữa nhưng bé đã không qua khỏi vào chiều 6/5. Bước đầu cơ quan chức năng xác định Hiệp sống chung như vợ chồng với Tâm tại một phòng trọ khoảng 10m2. Trong thời gian chung sống cùng mẹ ruột và “cha dượng”, bé H. đã nhiều lần bị bạo hành, đỉnh điểm vào ngày 3/5 khiến bé đã mãi mãi ra đi.

Vào một ngày trước đó (2/5), một bé trai 2 tuổi sống tại TP.HCM cùng mẹ ruột và người “chồng hờ” của mẹ cũng bị bạo hành một cách dã man. Bé trai được đưa đi cấp cứu trong tình trạng đa chấn thương, dập lách, gan, đứt tụy, tổn thương thận, gãy xương cẳng tay trái, thiếu máu não… Điều đau lòng hơn, người mẹ ruột của bé không những không bảo vệ con trai mà còn trực tiếp ra tay bạo hành. Vụ việc chỉ được phát hiện khi hàng xóm nhìn thấy nhiều vết thương nghiêm trọng trên người bé trai và trình báo với lực lượng chức năng. Sau khi được tích cực cứu chữa ở BV Nhi đồng 1, bé trai may mắn đã qua cơn nguy kịch, có những tiến triển tích cực.

Cả hai vụ việc đều lặp lại một “kịch bản” đau lòng: Hai đứa trẻ còn quá nhỏ, chưa đủ sức chống đỡ, sống cùng mẹ ruột và “chồng hờ” của mẹ trong căn phòng trọ. Đáng lẽ căn phòng trọ ấy phải là mái ấm, là chỗ trú ẩn an toàn nhất lại trở thành nơi các em bị tổn thương. Đau xót hơn, không một người lớn nào trong căn phòng ấy nhận lấy “trách nhiệm” để đứng ra bảo vệ con em mình.

Trẻ em khi sinh ra không thể tự chọn một điểm đến hoàn hảo, không thể chọn lớn lên trong gia đình có trọn vẹn tình yêu thương. Thế nhưng, cha mẹ thì khác. Cha mẹ có thể định hình gia đình phát triển, chăm sóc con và hơn hết chính là sự che chở đối với những đứa trẻ đang từng ngày lớn lên, bập bẹ tiếng gọi: “Cha ơi”, “Mẹ ơi…”.

Trong nhiều cuộc ly hôn, người lớn thường nghĩ chỉ cần thỏa thuận trách nhiệm nuôi con, cứ xác định rạch ròi và tìm câu trả lời cho các câu hỏi: “Con ở với ai?”, “Tiền chăm con ai sẽ đảm nhận?”…

Thế nhưng, nhiều bậc phụ huynh đã quên mất rằng để nuôi con khôn lớn, “trách nhiệm” của cha mẹ không thể được đo bằng khoản tiền gửi hằng tháng, vài cuộc gọi thăm hỏi hay một tờ giấy ghi nhận quyền nuôi dưỡng. Mà nghĩa vụ chăm con, bảo vệ con luôn phải thuộc về cả hai.

Sau mỗi biến cố gia đình, trẻ em là người yếu thế nhất. Các em không có quyền lựa chọn, không đủ khả năng nhận diện đầy đủ nguy hiểm, càng không thể tự thoát khỏi bạo lực nếu người lớn quanh mình nhắm mắt làm ngơ. Cha mẹ sau ly hôn có quyền tìm kiếm hạnh phúc mới, nhưng quyền ấy không thể được đặt cao hơn sự an toàn của con trẻ.

Chia sẻ về vấn đề này, chuyên gia tâm lý lâm sàng và tâm thần học, Giám đốc Viện Tâm lý học và Truyền thông thuộc Hội Tâm lý học Việt Nam cho rằng, sau ly hôn, dù là nam hay nữ, việc tìm hiểu, có quan hệ tình cảm hoặc lập gia đình mới là quyền của mỗi người. Tuy nhiên, khi lựa chọn người đồng hành mới, cha hoặc mẹ cần cân nhắc kỹ bởi người đó có thể trở thành người sống chung, tiếp xúc hằng ngày và ảnh hưởng trực tiếp đến sự an toàn của chính con ruột của mình.

Bác sĩ Nguyễn Hồng Bách chia sẻ cảm thấy rất đau lòng vì những vụ việc liên quan đến bạo hành trẻ em xảy ra liên tiếp trong thời gian qua.

“Khi ly hôn dù nam hay nữ hãy tìm một người mẹ/người cha đúng nghĩa cho con mình, đừng vì ích kỷ cá nhân và nhục dục bản thân mà lựa chọn bừa bãi để rồi khi sự việc xảy ra thì mọi sự ân hận đều đã muộn màng”, bác sĩ Bách chia sẻ.

Thạc sĩ tâm lý lâm sàng Hoàng Quốc Lân, Thành viên Hội Tâm lý trị liệu Việt Nam cho rằng, phần lớn cha mẹ đều có bản năng yêu thương con, không ai sinh ra đã muốn làm đau con mình. Nhưng trong một số trường hợp, những tổn thương tâm lý, sang chấn từ quá khứ, áp lực cuộc sống, sự mất kiểm soát cảm xúc hoặc nhận thức sai lệch có thể khiến người lớn dần đánh mất khả năng đồng cảm với trẻ.

Theo Thạc sĩ Lân, bạo lực với trẻ em đôi khi không xuất hiện như một hành vi bộc phát đơn lẻ, mà âm thầm hình thành từ những cách ứng xử sai lệch được lặp lại trong đời sống gia đình. “Có những người từng lớn lên trong môi trường bạo lực, bị dạy dỗ bằng đòn roi nên họ xem việc đánh mắng là cách giải quyết vấn đề. Cũng có những người đang ở trong trạng thái căng thẳng kéo dài, thất bại, cô đơn, xung đột hôn nhân… nhưng lại không có kỹ năng giải tỏa cảm xúc lành mạnh nên trút sự tức giận lên người yếu thế nhất là trẻ nhỏ”, thạc sĩ Hoàng Quốc Lân nói.

Chuyên gia tâm lý Hoàng Quốc Lân chỉ ra rằng trong một số trường hợp, những tổn thương tâm lý, sang chấn từ quá khứ, áp lực cuộc sống, sự mất kiểm soát cảm xúc hoặc những méo mó trong nhận thức có thể khiến người lớn dần mất khả năng đồng cảm với trẻ.

Các chuyên gia tâm lý cũng chỉ ra rằng điều nguy hiểm là bạo lực thường không bắt đầu ngay bằng những hành vi gây hậu quả nghiêm trọng, mà có thể đi từ những lời quát mắng, xúc phạm, đe dọa, những trận đòn được ngụy biện là “dạy dỗ”. Khi các hành vi ấy không được nhận diện, can thiệp và ngăn chặn kịp thời, mức độ tổn thương có thể tăng dần theo sự mất kiểm soát của người lớn.

Từ những phân tích này, có thể thấy trách nhiệm của cha mẹ không chỉ nằm ở việc yêu thương con bằng bản năng, mà còn ở khả năng kiểm soát chính mình, nhận diện nguy cơ và không để những tổn thương, áp lực hay lựa chọn sai lầm của người lớn trút xuống trẻ nhỏ. Bởi trong mọi hoàn cảnh, trẻ em không thể là nơi hứng chịu sự thất bại, cô đơn hay tức giận của người lớn.

Trong các vụ trẻ bị bạo hành, xâm hại, sự im lặng của cha hoặc mẹ đôi khi được ngụy biện bằng rất nhiều lý do chỉ vì sợ đối phương bị ảnh hưởng. Có người cho rằng khi “sự thật” được tiết lộ, mối quan hệ hôn nhân sẽ đổ vỡ, chỗ dựa về tinh thần, kinh tế đều bị ảnh hưởng. Hay một số người sẽ hình thành nỗi sợ vô hình là cảm giác bị bỏ rơi, phản bội và tự trấn an “đối phương” chỉ dạy dỗ con bằng biện pháp răn đe.

Thế nhưng, tất cả lý do kể trên đều không đủ sức nặng để biện minh cho việc một đứa trẻ phải tiếp tục sống trong sợ hãi, tổn thương và nguy hiểm âm thầm rình rập từng ngày.

Trong vụ việc ở Hà Nội, nạn nhân là bé gái mới 4 tuổi, còn quá nhỏ để hiểu vì sao mình bị trừng phạt, càng không đủ sức kháng cự trước bạo lực của người lớn. Theo tài liệu điều tra, chỉ vì những việc nhỏ trong sinh hoạt, cháu gái nhiều lần bị đánh, phạt, thậm chí có thời điểm bị bỏ đói nhiều ngày.

Đỉnh điểm trong ngày 3/5, khi cháu có biểu hiện sợ hãi, không kiểm soát được vệ sinh cá nhân, “chồng hờ” của mẹ đã dùng vòi nước xịt liên tục để trừng phạt. Điều đau lòng là người mẹ ruột của cháu có mặt, chứng kiến sự việc nhưng không can ngăn, bảo vệ con. Chỉ đến khi cháu yếu dần, không còn phản ứng bình thường, cả hai mới đưa cháu đi cấp cứu.

Nhìn vào diễn biến ấy, câu hỏi không chỉ là người đàn ông sống cùng mẹ bé đã tàn nhẫn đến mức nào, mà còn là người mẹ đã ở đâu, làm gì, nghĩ gì… trong những khoảnh khắc con mình cần được bảo vệ.

Trong lời khai với cơ quan chức năng, khi chứng kiến “chồng hờ” dạy dỗ con, người mẹ ruột chỉ phản kháng một cách yếu ớt: "Thôi, dạy thế thôi", không quyết liệt để ngăn chặn tình huống xấu xảy ra với con mình.

Chia sẻ về điều này, chuyên gia tâm lý Hoàng Quốc Lân cho rằng, trong thực tế, khi thấy con bị bạo hành, có nhiều người ban đầu họ có thể từng lên tiếng, từng bảo vệ con, nhưng nếu mỗi lần phản ứng đều dẫn tới cãi vã, bạo lực hoặc bị đe doạ bỏ rơi, họ sẽ dần hình thành suy nghĩ kiểu: “Mình không thay đổi được gì”, “Im lặng thì mọi chuyện còn yên hơn”.

Dưới góc nhìn của nhận thức - hành vi, vị chuyên gia này cho rằng, khi ở lâu trong môi trường độc hại, nhận thức của một người cũng bị thay đổi. Họ dễ tự hợp lý hoá như: “Con chịu một chút rồi cũng qua”, “Nếu chống lại thì còn tệ hơn”, hay “Ít nhất con vẫn còn gia đình”. Đó là cách họ tự làm giảm cảm giác bất lực và sợ hãi của chính mình.

Ngoài ra, khi phải chịu áp lực tâm lý kéo dài, cảm xúc của con người cũng có thể trở nên chai lì. Họ né tránh đối diện với nỗi đau của con vì điều đó khiến họ cảm thấy tội lỗi, bất lực và thất bại. Tuy nhiên, việc hiểu cơ chế tâm lý không có nghĩa là biện minh cho sự im lặng hay đồng lõa. Với trẻ nhỏ, việc không được chính cha mẹ bảo vệ cũng là một tổn thương rất sâu sắc.

Ở vụ việc tại TP.HCM, nạn nhân là bé trai mới 2 tuổi, độ tuổi gần như chưa thể tự vệ trước bất kỳ hành vi bạo lực nào từ người lớn. Xót xa hơn, người bị điều tra không chỉ là người "chồng hờ" của mẹ, mà còn có chính mẹ ruột của bé. Khi một đứa trẻ 2 tuổi bị chính mẹ ruột đánh đập đến đa chấn thương, mà cha dượng cũng làm ngơ thì câu chuyện không thể được nhìn như một phút nóng giận thông thường. Đó là sự sụp đổ của vai trò bảo vệ, chăm sóc và che chở mà người lớn phải dành cho trẻ.

Từ hai vụ việc, có thể thấy ranh giới giữa im lặng, bao che và đồng lõa đôi khi rất mong manh. Bao che không chỉ là che giấu sự thật sau khi tội ác xảy ra. Bao che còn có thể bắt đầu từ việc chứng kiến con bị tổn thương nhưng không can ngăn đến cùng, biết trẻ sợ hãi nhưng vẫn phó mặc, thấy những dấu hiệu bất thường nhưng tự trấn an rằng đó chỉ là “dạy dỗ”.

Chia sẻ về góc nhìn pháp lý, Luật sư Đỗ Ngọc Thanh - Chi hội trưởng Chi hội luật sư, Hội Bảo vệ Quyền trẻ em TP.HCM cho biết, nếu cha hoặc mẹ biết con đang bị bạo hành, xâm hại mà cố tình không can thiệp, không trình báo hoặc không có biện pháp bảo vệ cần thiết thì tùy tính chất, mức độ hậu quả, hoàn toàn có thể bị xem xét trách nhiệm pháp lý, kể cả trách nhiệm hình sự.

“Theo Điều 132 Bộ luật Hình sự 2015, hoặc xem xét vai trò đồng phạm nếu có căn cứ cho thấy người đó biết rõ hành vi phạm tội nhưng vẫn tiếp tay, dung túng hoặc bỏ mặc có chủ đích. Tôi cho rằng trong các vụ việc liên quan trẻ em, sự im lặng đôi khi nguy hiểm không kém bạo lực, bởi trẻ em là nhóm yếu thế, các em không đủ khả năng tự bảo vệ và hoàn toàn phụ thuộc vào phản ứng của người lớn”, luật sư Thanh lý giải.

Theo Luật sư Thanh, pháp luật hiện nay không cho phép bất kỳ người cha hay người mẹ nào được đứng ngoài trách nhiệm với sự an toàn của con mình.

Ranh giới giữa bao che và tội ác vì thế rất mong manh. Bao che không nhất thiết là đứng ra che giấu chứng cứ hay bênh vực kẻ gây hại. Đôi khi, bao che bắt đầu từ việc bỏ qua những cơn hoảng sợ bất thường, xem tiếng khóc của trẻ là phiền phức, hoặc tiếp tục giao con cho một người mà mình biết có thể gây nguy hiểm. Khi cha hoặc mẹ biết con bị tổn thương nhưng vẫn chọn sự yên ổn của bản thân, mối quan hệ tình cảm, lợi ích kinh tế hoặc danh dự gia đình thay vì sự an toàn của con, sự im lặng ấy không còn là yếu đuối. Nó đã trở thành một phần của bi kịch.

Sau tất cả, điều ám ảnh nhất trong nhiều vụ bạo hành, xâm hại trẻ em là các bậc phụ huynh thường chỉ hối hận khi mọi thứ dường như đã không còn có thể cứu vãn. Đến khi trẻ rơi vào nguy kịch, thậm chí không còn cơ hội sống sót, sự hối hận ấy trở nên muộn màng. Nó không thể xóa đi những ngày tháng trẻ bị tổn thương, càng không thể trả lại một sinh mạng đã mất.

Với bé trai 2 tuổi tại TP.HCM, nhờ sự can thiệp kịp thời của hàng xóm, sau những ngày nỗ lực của đội ngũ y bác sĩ, bé đã qua cơn nguy kịch, có thể nhoẻn miệng cười. Nụ cười ấy khiến mọi người thở phào nhẹ nhõm.

Thế nhưng với bé gái 4 tuổi ở Hà Nội, may mắn đã không mỉm cười với con khi một thiên thần nhỏ đã mãi mãi tạm biệt cõi đời. Dù bé được đưa đến viện nhưng tất cả đã quá muộn. Trong lời hối lỗi muộn màng tại cơ quan công an, Tâm - mẹ bé gái 4 tuổi nói bản thân “không đáng là mẹ của cháu”, và mong con gái được siêu thoát.

Hai vụ việc, hai đứa trẻ non nớt đã bị tổn thương. Với một đứa trẻ, sự can thiệp kịp thời của người lớn chính là cánh cửa sự sống, là hi vọng cuối cùng để bảo vệ chúng.

Sau cùng, bản án pháp luật có thể được tuyên trong một phiên tòa nhưng bản án lương tâm có lẽ sẽ đi hết quãng đời của các bậc làm cha mẹ. Pháp luật có thể định danh tội danh, xác định mức án và buộc người vi phạm trả giá bằng những năm tháng tự do. Thế nhưng, lương tâm lại phán xét bằng một cách khác âm thầm hơn, dai dẳng hơn và không có ngày mãn hạn rõ ràng…

Với nhiều năm kinh nghiệm trong quá trình thăm khám, tham vấn tâm lý, chuyên gia tâm lý Hoàng Quốc Lân cho rằng: “Trẻ con gần như không có khả năng tự bảo vệ mình. Các con không thể chống trả, không biết cầu cứu đúng cách và nhiều khi vẫn ôm lấy chính người làm đau mình vì đó là người phụ thuộc để sống.

Tôi gặp không ít đứa trẻ dù bị đánh nhưng vẫn nói: “Con ngoan thì mẹ sẽ thương lại”, hoặc “Tại con hư nên con bị đánh”. Tức là trẻ thường có xu hướng đổ lỗi ngược cho bản thân thay vì hiểu rằng mình đang bị tổn thương. Điều đó để lại ảnh hưởng tâm lý rất dài lâu, đó là khi trẻ lớn lên với cảm giác mình không xứng đáng được yêu thương hoặc phải chịu đau đớn để giữ một mối quan hệ.

Vì thế, tôi cho rằng cha mẹ không cần hoàn hảo, nhưng ít nhất phải là nơi khiến con cảm thấy an toàn. Không một áp lực tình cảm, hôn nhân hay kinh tế nào nên trở thành lý do để trẻ em phải chịu tổn thương hoặc sống trong sợ hãi”.

Một người cha, người mẹ có thể có quyền bắt đầu lại cuộc đời, có quyền yêu thương, tìm kiếm hạnh phúc mới sau đổ vỡ. Thế nhưng, quyền được yêu không bao giờ được phép trở thành cái cớ để thỏa hiệp với sự an toàn của con.

Nếu một mối quan hệ khiến trẻ phải sống trong sợ hãi, nếu một người bước vào gia đình nhưng liên tục gây tổn thương cho trẻ, nếu những vết bầm, tiếng khóc, sự hoảng loạn của con bị bỏ qua chỉ để giữ lấy một chỗ dựa tình cảm hay kinh tế, thì đó không còn là tình yêu. Đó là sự ích kỷ được che đậy bằng vỏ bọc của lựa chọn cá nhân.

Từng tham gia nhiều phiên tố tụng, tư vấn và hỗ trợ trong công tác bảo vệ quyền trẻ em, luật sư Đỗ Ngọc Thanh cho rằng điều đau lòng nhất là không ít hành vi bạo hành, xâm hại trẻ lại diễn ra ngay trong chính gia đình - nơi lẽ ra phải an toàn nhất với các em. Có những đứa trẻ bị đánh đập, đe dọa trong thời gian dài nhưng người lớn xung quanh xem đó là “dạy con”, hoặc bỏ qua các dấu hiệu bất thường. Theo luật sư Thanh, bảo vệ trẻ em không thể bị coi là chuyện riêng của từng gia đình, bởi sự im lặng trước nỗi đau của trẻ đôi khi chính là điều khiến bi kịch tiếp tục xảy ra.

Cuối cùng, một đứa trẻ cần được dạy dỗ, nhưng dạy dỗ không đồng nghĩa với quát mắng, đe dọa, đánh đập hay dùng những hình phạt nặng nề để buộc con phải nghe lời.

Kỷ luật một đứa trẻ cần bắt đầu từ sự thấu hiểu, giới hạn rõ ràng và phương pháp phù hợp với độ tuổi, thay vì cơn giận mất kiểm soát của người lớn. Khi cha mẹ dùng bạo lực để “răn đe”, trẻ có thể im lặng vì sợ nhưng bên trong là những tổn thương âm thầm kéo dài.

Làm cha mẹ không đòi hỏi sự hoàn hảo hay sự phù phiếm về vật chất nhưng cái cốt lõi chính là đòi hỏi trách nhiệm và tỉnh táo. Trách nhiệm chăm lo cho con không phải được gắn danh cho cha hay mẹ mà cả hai đều phải học cách lắng nghe, yêu thương và ôm con vào lòng.

Đứng trước nguy hiểm, cha mẹ phải biết cách nhìn nhận, giải quyết vấn đề. Nếu trải qua một cuộc hôn nhân đổ vỡ, cha mẹ có quyền chọn bạn đời thích hợp nhưng phải biết cách để chọn người bước vào cuộc sống của con, biết dừng lại trước khi lời nói hay hành động của mình trở thành vết thương với trẻ nhỏ.

Cha mẹ không chỉ là người nuôi dưỡng, mà còn là vùng an toàn đầu tiên trong thời thơ ấu của con.

Luật sư Đỗ Ngọc Thanh - Chi hội trưởng Chi hội Luật sư, Hội Bảo vệ Quyền trẻ em TP.HCM 

Điều khiến tôi day dứt suốt nhiều năm làm công tác bảo vệ trẻ em là phần lớn những vụ xâm hại, bạo hành trẻ em không xảy ra ngoài xã hội xa lạ mà lại diễn ra ngay trong chính ngôi nhà của các em. Bạo hành trẻ em không chỉ gây tổn thương thể xác mà còn để lại sang chấn tâm lý rất dài lâu, làm trẻ mất cảm giác an toàn, mất niềm tin vào người lớn và ảnh hưởng cả cuộc đời sau này. 

Dưới góc độ pháp lý, cha và mẹ có trách nhiệm bình đẳng trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và bảo vệ con, kể cả trong trường hợp không trực tiếp nuôi con hoặc không sống cùng trẻ. Điều 69 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định rất rõ cha mẹ có nghĩa vụ thương yêu con, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con, trông nom, chăm sóc và bảo đảm cho con phát triển lành mạnh cả về thể chất lẫn tinh thần. Vì vậy, trong các vụ bạo hành, xâm hại trẻ em xảy ra trong gia đình, cơ quan tố tụng không chỉ xem xét ai là người trực tiếp gây ra hành vi mà còn đánh giá trách nhiệm của người cha, người mẹ trong việc bảo vệ trẻ. 

Thực tế nhiều năm tham gia bảo vệ trẻ em cho tôi thấy điều khiến xã hội đau lòng nhất không chỉ là những cú đánh hay hành vi xâm hại, mà là việc có những đứa trẻ đã phát tín hiệu cầu cứu rất lâu nhưng người lớn lại không hành động đủ sớm để bảo vệ các em. Pháp luật hiện nay không cho phép bất kỳ người cha hay người mẹ nào được đứng ngoài trách nhiệm với sự an toàn của con mình.

Pháp luật hiện hành có cơ chế bảo vệ người tố giác tội phạm và người thân của họ. Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định người tố giác được bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền lợi hợp pháp khác khi có nguy cơ bị đe dọa hoặc trả thù. Cơ quan chức năng có thể áp dụng các biện pháp như giữ bí mật thông tin cá nhân, bảo vệ nơi cư trú, nơi làm việc, ngăn chặn hành vi đe dọa hoặc áp dụng các biện pháp bảo vệ khẩn cấp khi cần thiết. 

Trong lĩnh vực trẻ em, Luật Trẻ em 2016 cũng khuyến khích mọi cá nhân kịp thời thông báo, tố giác các hành vi xâm hại trẻ em. Tổng đài quốc gia bảo vệ trẻ em 111 hoạt động miễn phí 24/24 để tiếp nhận thông tin và hỗ trợ can thiệp. Tôi luôn cho rằng cứu một đứa trẻ khỏi bạo lực không phải là “xen vào chuyện gia đình người khác”, mà là hành động bảo vệ một con người yếu thế đang cần được giúp đỡ nhất.

“Đối với vụ việc bé gái 4 tuổi ở Hà Nội tử vong do bị bạo hành mà cơ quan điều tra đã khởi tố cả người mẹ và cha dượng về tội Giết người theo Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015, đây là tội danh đặc biệt nghiêm trọng với khung hình phạt rất nặng. 

Trong trường hợp nạn nhân là trẻ em dưới 16 tuổi, đặc biệt là một cháu bé mới 4 tuổi hoàn toàn không có khả năng tự vệ, hành vi phạm tội có thể bị xem xét với nhiều tình tiết định khung tăng nặng như giết người dưới 16 tuổi, thực hiện hành vi có tính chất côn đồ, có tính chất tàn ác hoặc phạm tội đối với người lệ thuộc mình. Theo khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015, khung hình phạt đối với tội danh này có thể từ 12 năm đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình”.

Tôi cho rằng điều khiến xã hội đau xót là đứa trẻ thường không ra đi sau một lần bị bạo hành duy nhất. Phần lớn các vụ việc đều có dấu hiệu kéo dài trước đó như thương tích lặp đi lặp lại, tâm lý hoảng sợ, tiếng khóc bất thường, hàng xóm phản ánh hoặc người thân biết sự việc nhưng không can thiệp kịp thời. Một đứa trẻ 4 tuổi gần như không có khả năng tự bảo vệ mình, nên pháp luật buộc người lớn phải chịu trách nhiệm ở mức rất cao đối với sự an toàn của trẻ.

Tuy nhiên, về nguyên tắc pháp lý, dù vụ việc gây phẫn nộ lớn trong dư luận thì việc xác định tội danh, vai trò đồng phạm và mức hình phạt cụ thể đối với từng người vẫn phải dựa trên kết quả điều tra, truy tố và xét xử khách quan của cơ quan tiến hành tố tụng theo đúng quy định pháp luật.