Đặc sản có tên "ngượng đỏ mặt", xưa mọc bờ rào nay được ưa chuộng giá 85.000 đ/kg, trồng một lần thu hoạch nhiều năm

Lòn bon là đặc sản nổi tiếng của xứ Tiên, Đà Nẵng, gây chú ý bởi cái tên lạ cùng những chùm quả vàng óng, múi trong veo, mọng nước và vị ngọt thanh xen chút chua dịu.

Nghe tên có phần dễ khiến người ta bật cười, trái lòn bon lại là đặc sản nổi tiếng của vùng đất Tiên Phước, Đà Nẵng (khu vực tỉnh Quảng Nam cũ). Loại quả này gây thương nhớ bởi những chùm vàng óng mọc dọc thân cây, phần múi trong veo, mọng nước cùng vị ngọt thanh xen chút chua dịu, thường xuất hiện vào dịp cuối hè, đầu thu.

Lòn bon còn có một tên gọi khác rất đẹp là nam trân, mang ý nghĩa là trái quý ở phương Nam. Từ lâu, loại quả này đã gắn bó với đời sống của người dân xứ Tiên, nơi có nhiều vườn cây lâu năm. Nhờ hương vị đặc trưng và chất lượng được nhiều người yêu thích, lòn bon dần trở thành một trong những loại trái cây làm nên nét riêng của vùng đất này.

Điểm thú vị đầu tiên của lòn bon nằm ở cách quả sinh trưởng. Khác với nhiều loại cây ăn quả thường cho trái ở đầu cành, lòn bon kết thành từng chùm dày, bám trực tiếp trên thân cây, cành lớn rồi lan ra những nhánh nhỏ. Khi vào mùa chín, những chùm quả vàng nhạt đan xen giữa tán lá xanh, trải từ gốc lên ngọn, tạo nên khung cảnh bắt mắt trong các khu vườn.

Quả lòn bon có hình tròn, kích thước thường chỉ nhỉnh hơn đầu ngón tay cái, vỏ mỏng, khi chín chuyển sang màu vàng nhạt như mỡ gà. Nhìn bên ngoài, quả khá giống dâu đất nhưng có lớp vỏ riêng biệt. Khi bóc ra, phần thịt bên trong chia thành nhiều múi nhỏ, màu trắng trong, mọng nước. Một số múi có hạt, song cũng có những múi ít hạt, phần thịt dày và dễ ăn.

Theo kinh nghiệm của người dân địa phương, lòn bon ngon không nhất thiết phải là quả to nhất. Những quả cỡ vừa, dáng tròn đều, phần đầu hơi nhọn, vỏ căng và có màu vàng sáng thường được ưu tiên lựa chọn. Quả chín tự nhiên, không bị dập hay có dấu hiệu sâu bệnh thường giữ được hương vị thơm ngon hơn.

Sức hấp dẫn của lòn bon nằm ở sự hài hòa giữa vị ngọt và chua nhẹ. Khi tách lớp vỏ mỏng, phần thịt quả mềm mọng, đưa vào miệng có cảm giác mát lành, vị ngọt lan nhanh nhưng không quá gắt. Tùy độ chín, quả có thể thiên về vị ngọt thanh hoặc phảng phất chút chua dịu ở cuối vị. Hương thơm của lòn bon không quá nồng, đủ nhẹ nhàng để tạo cảm giác dễ chịu khi thưởng thức.

Cũng bởi đặc điểm ấy, lòn bon thường được ăn tươi để cảm nhận trọn vẹn độ mọng nước và vị ngọt tự nhiên. Khi ăn, người dùng chỉ cần bóc bỏ lớp vỏ bên ngoài, tách múi rồi thưởng thức, chú ý loại bỏ hạt nếu có. Quả ngon nhất khi được hái đúng độ chín, bảo quản nơi thoáng mát hoặc làm mát trước khi ăn. Lòn bon cũng có thể dùng làm món tráng miệng sau bữa cơm, bày trên đĩa trái cây hoặc kết hợp với những loại quả theo mùa để tăng sự phong phú.

Lòn bon thường vào mùa từ khoảng tháng 8 đến tháng 10 dương lịch, tùy điều kiện thời tiết và từng khu vực trồng. Trong đó, giai đoạn cuối hè, đầu thu là lúc nhiều vườn ở xứ Tiên bước vào thời kỳ thu hoạch rộ. Thời gian chín có thể thay đổi theo giống cây, lượng mưa và quá trình chăm sóc. 

Tại vườn, lòn bon được thương lái thu mua khoảng 15.000-40.000 đồng/kg. Những chùm quả chín đẹp, màu vàng sáng, ít bị dập hoặc sâu bệnh thường có giá cao hơn. Khi đến các cửa hàng trái cây hoặc được vận chuyển tới những thị trường xa, giá bán lẻ có thể lên tới 85.000 đồng/kg.

Để có những chùm quả sai trĩu, người trồng lòn bon phải đầu tư chăm sóc trong thời gian dài. Đây là cây ăn quả lâu năm, phù hợp với điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm và những khu vực có đất thoát nước tốt. Cây có tán rộng, thân lớn khi trưởng thành, vì vậy cần không gian đủ thoáng để phát triển. Tại Tiên Phước, nhiều vườn lòn bon đã được trồng qua nhiều thế hệ, sau đó người dân tiếp tục nhân giống, mở rộng diện tích để tăng sản lượng.