Cây dại mọc bờ mương nay thành đặc sản nổi tiếng, trồng 3 tháng cho thu hoạch, giá 110.000 đồng/kg được ưa chuộng ở thành phố

H.A
Rau nhót có vị mặn tự nhiên, giòn giòn, sần sật và mọng nước. Từ loại rau dại mọc ở đồng muối, đầm nước lợ, bờ mương, rau nhót nay được người dân đưa về trồng, trở thành đặc sản được nhiều người tìm mua về thưởng thức.

Không giống những loại rau xanh quen thuộc, rau nhót nổi bật với vị mặn tự nhiên, lá mọng nước, ăn giòn giòn, sần sật và có chút thanh mát. Từng là loại rau mọc hoang chẳng mấy ai để ý, nay rau nhót trở thành đặc sản được nhiều người tìm mua, có thời điểm được bán trên chợ mạng với giá khoảng 110.000 đồng/kg.

Rau nhót gắn liền với đời sống của người dân ở những vùng đất ven biển, đặc biệt tại Hải Phòng và Nghệ An, Huế. Tại Hải Phòng, rau còn được biết đến với tên rau còng còng và thường mọc tự nhiên ở những cánh đồng muối, ven đầm nước lợ, hồ nuôi tôm. Ở Nghệ An, loại rau này cũng xuất hiện tại những vùng đất nhiễm mặn và dần được người dân đưa về trồng để chủ động nguồn cung. 

Cây rau nhót thuộc dạng thân thảo, mọc thành bụi, thân có màu tím, lá nhỏ, mọng nước và khá giống lá hoa mười giờ. Nhờ thích nghi với môi trường đất mặn, cây có sức sống tốt. Khi mọc tự nhiên, rau thường phát triển mạnh vào những tháng thời tiết mát, khoảng từ tháng giêng đến tháng 4-5 âm lịch. Đây cũng là thời điểm người dân tranh thủ thu hái những ngọn rau non để chế biến hoặc bán tại các chợ địa phương.

Điểm khiến rau nhót trở nên đặc biệt chính là hương vị rất khó nhầm lẫn. Lá rau mọng nước, khi ăn có độ giòn, sần sật, kèm vị mặn tự nhiên khá rõ. Vị mặn này được cho là đặc trưng của môi trường đất nhiễm mặn, khiến rau khi chế biến có hương vị đậm đà mà không cần nêm quá nhiều gia vị.

Tuy nhiên, rau nhót không phải cứ hái về là có thể chế biến ngay. Người dân thường rửa sạch rồi ngâm nước khoảng 2-3 tiếng để giảm bớt vị mặn. Sau đó rau được luộc chín, vắt ráo nước và dùng đũa đánh tơi từng ngọn. Công đoạn sơ chế tuy mất thêm thời gian nhưng giúp rau mềm hơn, vị mặn dịu lại và dễ kết hợp với nhiều nguyên liệu.

Một trong những món được yêu thích nhất là gỏi rau nhót. Rau sau khi sơ chế được trộn cùng rau thơm, lá chanh, lạc rang, đường, ớt và các loại nguyên liệu như tôm, thịt hoặc hàu. Khi hoàn thành, món gỏi có độ giòn, sần sật, vị mặn nhẹ hòa cùng vị chua ngọt của nước trộn, thêm mùi thơm của rau gia vị và vị bùi của lạc rang. Ăn cùng bún hoặc bánh ướt tạo thành món ăn dân dã nhưng khá lạ miệng.

Trước đây, gỏi rau còng còng từng là món ăn quen thuộc trong các gia đình địa phương, sau đó được một số nhà hàng đưa vào thực đơn phục vụ du khách. Nhờ hương vị khác biệt, món ăn này trở thành một trong những cách thưởng thức giúp thực khách cảm nhận rõ nét hơn đặc sản của vùng biển.

Ngoài làm gỏi, rau nhót còn có thể xào với thịt bò, thịt, tôm hoặc hàu, nấu canh thịt bằm, luộc chấm tương hay chế biến thành các món nộm. Khi xào, rau vẫn giữ được độ giòn nhất định, vị mặn tự nhiên hòa với vị ngọt của thịt và hải sản. Nếu nấu canh, rau tạo vị đậm đà đặc trưng, đặc biệt thích hợp khi kết hợp với những nguyên liệu có vị béo hoặc ngọt.

Ngày trước rau nhót chủ yếu được hái tự nhiên, nhiều đến mức người dân chỉ cần ra đồng hoặc ven đầm là có thể mang về cả rổ. Khi ngày càng nhiều người biết đến loại rau này, nguồn rau tự nhiên không còn đủ đáp ứng nhu cầu. Rau nhót vì thế được đưa về trồng, mở ra hướng phát triển mới cho người dân ở những vùng đất trước đây khó canh tác.

Nhiều hộ dân đã thử trồng rau nhót ở những khu vực có điều kiện đất đai tương đồng với môi trường sống tự nhiên của cây. Đất ven đầm nước lợ, đất cát pha hoặc vùng có độ mặn phù hợp thường được lựa chọn. Cây trồng khoảng 3 tháng là cho thu hoạch lứa đầu tiên.

Một đặc điểm đáng chú ý là rau nhót có thể cho thu hoạch nhiều lứa. Khi hái phần ngọn và lá non, cây tiếp tục bật chồi mới. Nếu được chăm sóc, cung cấp đủ nước và duy trì điều kiện đất phù hợp, rau có thể cho thu hái trong thời gian dài, giúp người trồng chủ động nguồn rau bán ra thị trường thay vì chỉ phụ thuộc vào mùa rau mọc tự nhiên.