Mỗi độ cuối xuân đầu hè, những cánh rừng và sườn núi Tây Bắc lại bước vào mùa mơ chín. Không rực rỡ như mận hay đào, quả mơ rừng có vẻ ngoài mộc mạc với lớp vỏ phủ lông mịn, khi chín chuyển từ xanh sang vàng óng, tỏa mùi thơm dịu rất đặc trưng. Chính hương thơm thanh mát cùng vị chua đậm pha chút ngọt hậu đã khiến loại quả này trở thành nguyên liệu được nhiều người tìm mua để chế biến đủ món ngon.

Mơ rừng xuất hiện nhiều ở các tỉnh miền núi phía Bắc như Sơn La, Lai Châu, Lào Cai và một số khu vực thuộc Cao Bằng, Bắc Kạn. Trong đó, phường Mộc Châu và xã Vân Hồ của tỉnh Sơn La được xem là vùng mơ nổi tiếng nhất, nơi khí hậu mát mẻ quanh năm giúp cây sinh trưởng tốt, cho quả thơm và nhiều tinh dầu.
Mùa mơ khá ngắn, thường bắt đầu từ khoảng tháng 4 và kéo dài đến hết tháng 5, một số nơi thu hoạch sang đầu tháng 6 tùy thời tiết. Chính vì chỉ xuất hiện trong thời gian ngắn nên mỗi năm, khi mơ vừa vào vụ, các chợ truyền thống và chợ mạng lại nhộn nhịp cảnh mua bán.
Điểm hấp dẫn nhất của mơ rừng nằm ở hương vị. Khi còn xanh, quả có vị chua gắt, giòn, nhiều người thích chấm muối ớt hoặc muối tôm để ăn vặt. Đến khi chín vàng, phần thịt mềm hơn, mùi thơm đậm, vị chua dịu lại, xen chút ngọt thanh và hậu thơm rất lâu. Chính hương thơm tự nhiên này khiến mơ rừng khác với nhiều loại quả chua khác. Chỉ cần cắt đôi quả mơ vừa chín, mùi thơm đã lan tỏa rất rõ, tạo cảm giác dễ chịu.

Nhờ hương vị đặc biệt, mơ rừng có thể chế biến thành rất nhiều món ăn và thức uống. Phổ biến nhất là mơ ngâm đường để làm siro giải khát. Sau vài tháng ngâm, nước mơ có màu hổ phách đẹp mắt, vị chua ngọt hài hòa, pha với nước đá tạo thành thức uống giải nhiệt được nhiều gia đình yêu thích trong mùa hè.
Ngoài ra, mơ còn được ngâm mật ong, ngâm rượu, làm ô mai mơ, mứt mơ, mơ muối, mơ sấy dẻo hay mơ sấy lạnh. Ở vùng cao, người dân còn dùng mơ để nấu nước chấm, kho cá, kho thịt hoặc hầm vịt. Vị chua tự nhiên của mơ giúp món ăn bớt ngấy, đồng thời tạo hương thơm rất riêng.
Một món ăn dân dã được nhiều người Tây Bắc yêu thích là mơ xanh giã cùng muối, ớt và mắc khén để chấm các món luộc hoặc đồ nướng. Sự kết hợp giữa vị chua của mơ, vị cay của ớt và hương thơm của mắc khén tạo nên thứ nước chấm đậm chất núi rừng, khó có nguyên liệu nào thay thế được.
Giá mơ rừng thay đổi theo từng thời điểm của mùa vụ. Đầu mùa, mơ xanh tuyển chọn thường được bán khoảng 60.000–70.000 đồng/kg, có thời điểm lên tới 90.000 đồng/kg nếu khan hàng. Khi vào chính vụ, giá phổ biến khoảng 35.000–50.000 đồng/kg, tùy kích cỡ, chất lượng và nguồn gốc. Những quả mơ rừng già, hái từ cây tự nhiên, thường có giá cao hơn vì số lượng ít và hương thơm đậm hơn so với mơ trồng đại trà.

Không chỉ thu hái trong tự nhiên, hiện nay nhiều hộ dân đã phát triển mô hình trồng mơ để tăng thu nhập. Cây mơ phù hợp với khí hậu mát, nhiệt độ trung bình 18–25°C, cần một khoảng thời gian lạnh trong năm để phân hóa mầm hoa. Đất trồng nên là đất đồi tơi xốp, thoát nước tốt, giàu hữu cơ và có độ dốc nhẹ.
Mơ thường được nhân giống bằng ghép hoặc chiết để giữ đúng đặc tính của cây mẹ. Sau khoảng 3–4 năm, cây bắt đầu cho quả; từ 5–6 năm trở đi bước vào giai đoạn cho năng suất ổn định. Cây khá khỏe, ít sâu bệnh, tuổi thọ có thể kéo dài hàng chục năm nếu được chăm sóc tốt. Mùa hoa nở vào khoảng tháng 1–2, phủ trắng các sườn đồi, trước khi kết trái và cho thu hoạch vào cuối xuân.

Ngày nay, ngoài giá trị kinh tế từ quả tươi, nhiều địa phương còn phát triển các sản phẩm chế biến như siro mơ, ô mai, rượu mơ hay mơ sấy để nâng cao giá trị nông sản. Từ một loại quả mọc giữa núi rừng, mơ đã trở thành đặc sản được nhiều người thành phố săn đón mỗi khi mùa về.