Loại quả xưa chín rụng đầy gốc nay thành đặc sản 150.000 đ/kg, trồng một lần thu hoạch nhiều năm, dân thành phố ưa chuộng

Sả rừng nhỏ như hạt tiêu nhưng càng nhai càng cảm nhận rõ vị cay nhẹ, hơi ngọt cùng mùi thơm nồng như củ sả. Loại quả rừng này được người dân địa phương dùng để ướp thịt, hấp ốc, làm muối chấm, bán ra thị trường với giá đắt đỏ.

Ở miền núi Quảng Ngãi có một loại trái rừng nhỏ li ti, hình dáng chẳng khác mấy hạt tiêu nhưng khi bóp nhẹ lại tỏa mùi thơm đặc trưng của sả, đó là trái sả rừng.

Trái sả rừng thường xuất hiện vào mùa hè, rộ nhất khoảng tháng 7-9. Đây cũng là thời điểm người dân ở xã Ba Tơ, xã Sơn Tây vào rừng tìm hái loại gia vị đặc biệt này. Khác với cây sả trồng lấy củ ở miền xuôi, sả rừng là cây thân gỗ, có thể cao khoảng 7-12 m. Cây mọc khá thưa ở các sườn đồi, bìa rừng và những khu vực thuộc dãy Trường Sơn.

Quả mọc thành từng chùm trên cành, kích thước nhỏ, khi còn non có màu xanh và hình dáng gợi liên tưởng đến hạt tiêu hoặc quả cà phê. Đến mùa, những chùm quả li ti xuất hiện dày trên cây. Do cây cao, người dân thường phải chặt hoặc kéo từng nhánh xuống rồi tuốt quả, nhặt vào rổ.

Điểm khiến trái sả rừng được yêu thích không nằm ở hình thức mà ở mùi vị. Khi còn tươi, quả có vị cay nhẹ, hơi ngọt, mang nét giống tiêu nhưng nổi bật hơn là hương thơm nồng của sả. Nếu dùng một lượng vừa phải để nấu ăn, loại gia vị này giúp món ăn dậy mùi mà không lấn át vị nguyên liệu chính.

Người dân địa phương có thể dùng nguyên quả hoặc giã dập trước khi cho vào món ăn. Với những món cần hương thơm nhẹ, quả được đập sơ; còn khi làm muối chấm, ướp thịt hoặc pha nước chấm, trái thường được giã nhỏ để tinh dầu và vị cay hòa quyện cùng các nguyên liệu.

Một trong những cách thưởng thức phổ biến là giã trái sả rừng với muối và ớt xiêm. Hỗn hợp có vị cay, mặn, thơm, dùng chấm thịt luộc hoặc các món nướng khá hấp dẫn. Trái sả rừng cũng có thể được ngâm hoặc dầm cùng ớt để kéo dài thời gian sử dụng. Một số cơ sở đặc sản còn đóng hũ bán cho khách, biến thứ gia vị vốn chỉ quen thuộc với người miền núi thành sản phẩm được nhiều người tìm mua.

Trong bữa cơm của người dân vùng cao, trái sả rừng còn góp mặt trong nhiều món mặn. Cá kho, thịt kho, thịt nướng hay các món thịt rừng đều có thể cho thêm loại quả này. Đặc biệt, khi chế biến thịt trâu, trái sả rừng được giã cùng tỏi, ớt, muối và các loại gia vị rồi dùng để ướp thịt. Khi áp chảo hoặc xào trên bếp nóng, mùi thơm của sả quyện với vị đậm đà của thịt, tạo nên hương vị rất đặc trưng.

Ốc đá cũng là món ăn thường được kết hợp với trái sả rừng. Những con ốc sau khi làm sạch có thể hấp cùng quả tươi. Hơi nóng giúp mùi thơm lan tỏa, tạo cảm giác gần giống món ốc hấp sả nhưng có nét cay nồng và mùi thơm sâu hơn. Với những người quen vị gia vị miền núi, đây được xem là cách tận dụng rất tự nhiên loại quả rừng đang vào mùa.

Ngoài ra, trái sả rừng còn có thể dùng khi nấu các món canh, làm gia vị cho món nướng hoặc giã cùng mắm. Chỉ cần một lượng nhỏ cũng đủ tạo mùi nên mỗi lần chế biến không cần sử dụng quá nhiều.

Do mọc tự nhiên và chỉ thu hoạch theo mùa nên trái sả rừng không phải loại hàng hóa có quanh năm. Trái tươi xanh hiện được thu mua khoảng 100.000-150.000 đồng/kg. Sau khi phơi khô, quả chuyển sang màu đen và giá có thể tăng lên khoảng 250.000-300.000 đồng/kg. Một số sản phẩm sả rừng dầm ớt, đóng hũ bán làm đặc sản có giá từ vài chục nghìn đồng/hũ, tùy khối lượng và cách chế biến.

Trái tươi khá dễ bị xuống màu nếu để lâu ở nhiệt độ thường. Khi mới hái, quả có màu xanh đẹp mắt nhưng nếu bảo quản không tốt sẽ dần chuyển đen, dễ hỏng. Vì vậy, người dân thường chỉ hái lượng vừa đủ dùng hoặc bảo quản trong tủ lạnh. Quả khô lại thuận tiện hơn trong việc sử dụng lâu dài.

Một cây sả rừng có thể bắt đầu cho trái sau khoảng 2-3 năm. Cây trưởng thành cao lớn, mỗi cây có thể cho vài kg quả trong một mùa. Tuy nhiên, do trước đây chủ yếu mọc hoang nên việc thu hái còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên và sản lượng từng năm.

Với giá trị sử dụng trong ẩm thực và giá bán tương đối cao, sả rừng đang được quan tâm theo hướng đưa vào trồng chủ động thay vì chỉ khai thác trong tự nhiên. Nếu được nhân giống và xây dựng quy trình chăm sóc phù hợp, loại cây này có thể trở thành nguồn nguyên liệu đặc sản, nhất là tại những vùng có điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng tương đồng với khu vực miền núi Quảng Ngãi.