Những quả lê nâu có lớp vỏ màu nâu vàng, dáng tròn đầy, khi ăn giòn ngọt, mọng nước đang được nhiều người tìm mua mỗi khi vào mùa. Được trồng tại những vùng núi có khí hậu mát mẻ như Tuyên Quang, Sơn La, loại quả này không chỉ mang lại nguồn thu cho người dân mà còn góp phần tạo thêm sản phẩm nông nghiệp đặc trưng, được tiêu thụ ngày càng rộng rãi trên thị trường. Hiện lê nâu được bán với giá khoảng 95.000 đồng/kg.

So với các giống lê vỏ xanh quen thuộc, lê nâu có vẻ ngoài khá khác biệt. Quả thường có hình tròn, lớp vỏ chuyển sang màu nâu vàng khi chín, trọng lượng phổ biến khoảng 200-300g/quả. Bên trong là phần thịt màu trắng, nhiều nước và có độ giòn rõ rệt. Khi cắn, quả cho vị ngọt thanh, mát, không quá gắt, kèm hương thơm nhẹ. Nhờ vậy, lê nâu thường được thưởng thức trực tiếp để cảm nhận trọn vẹn độ giòn và vị ngọt tự nhiên của quả.
Loại lê này thường được thu hoạch vào khoảng cuối hè, đầu thu. Khi quả đạt độ chín thích hợp, người trồng hái trực tiếp trên cây, sau đó phân loại theo kích thước và chất lượng trước khi đóng gói. Những quả có hình thức đẹp, kích thước đồng đều, vỏ không trầy xước thường được lựa chọn để bán nguyên quả. Do chỉ có theo mùa và sản lượng không quá dồi dào, lê nâu có giá cao hơn một số loại lê được bán phổ biến quanh năm.

Mức giá khoảng 95.000 đồng/kg khiến lê nâu trở thành loại quả có giá trị tương đối cao. Trên các kênh bán nông sản, loại quả này thường được giới thiệu như một sản phẩm vùng cao, phù hợp để ăn tươi hoặc mua làm quà. Nhiều người có thói quen bảo quản lê trong ngăn mát trước khi ăn bởi khi được làm lạnh, phần thịt quả giữ được độ giòn, mọng nước và vị ngọt thanh đặc trưng.
Để cho ra những quả lê đạt chất lượng, cây thường được trồng ở những khu vực có địa hình cao, khí hậu mát mẻ, đất đai phù hợp. Đây là yếu tố quan trọng bởi cây lê không phát triển tốt trong điều kiện nóng ẩm quanh năm. Những nơi có mùa lạnh tương đối rõ và chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm thường thuận lợi hơn cho quá trình sinh trưởng, ra hoa và phát triển quả.
Đất trồng lê cần có độ tơi xốp, giàu dinh dưỡng và khả năng thoát nước tốt. Nếu đất bị úng kéo dài, bộ rễ dễ bị ảnh hưởng, từ đó làm cây sinh trưởng kém. Khi trồng, người dân thường chuẩn bị đất, đào hố và bổ sung phân hữu cơ trước khi đưa cây giống xuống. Cây giống có thể được nhân bằng phương pháp ghép nhằm duy trì đặc tính tốt của giống và rút ngắn thời gian bước vào giai đoạn cho quả.

Trong những năm đầu, cây lê cần được chăm sóc kỹ để hình thành bộ rễ và tán cây khỏe. Người trồng thường xuyên làm cỏ, tưới nước, bón phân và cắt tỉa cành. Khi cây phát triển ổn định, việc tạo tán giúp ánh sáng phân bố đều, đồng thời tăng độ thông thoáng, hạn chế sâu bệnh. Cây lê cần vài năm chăm sóc mới bước vào giai đoạn cho thu hoạch ổn định, sau đó nếu được chăm sóc tốt có thể cho quả trong nhiều năm.
Khi cây ra hoa, người trồng tiếp tục theo dõi quá trình đậu quả và tỉa bớt những quả nhỏ, quả mọc quá dày. Việc này giúp cây tập trung dinh dưỡng cho số quả còn lại, từ đó quả có kích thước lớn và chất lượng đồng đều hơn. Trong thời gian nuôi quả, cây cần được cung cấp đủ nước, dinh dưỡng và kiểm soát sâu bệnh. Đây cũng là giai đoạn quyết định nhiều đến độ ngọt, độ giòn và lượng nước trong quả khi thu hoạch.


Đến mùa, những quả lê chín đều được hái bằng tay để hạn chế xây xước. Sau khi thu hoạch, lê được phân loại, làm sạch và đóng gói trước khi đưa ra thị trường. Khâu thu hái và bảo quản khá quan trọng bởi quả lê có thể bị dập nếu va chạm mạnh, ảnh hưởng đến hình thức cũng như thời gian sử dụng.
Không chỉ đem lại giá trị từ quả, những vùng trồng lê còn có thêm tiềm năng phát triển du lịch. Vào mùa hoa, những vườn lê phủ sắc trắng tạo cảnh quan hấp dẫn, trong khi mùa quả lại mang đến trải nghiệm hái và thưởng thức trái cây tại vườn. Đây là hướng đi giúp người dân có thêm nguồn thu, đồng thời quảng bá sản phẩm nông nghiệp đặc trưng đến du khách và người tiêu dùng ở các khu vực khác.
Trong danh sách 20 trái cây tốt nhất cho sức khỏe do một trang web ẩm thực nổi tiếng của Anh bình chọn, quả lê xếp ở vị trí thứ 15.